Tại chương trình Cà phê nhân sự lần thứ 17 do Mạng việc làm JobStreet.com Việt Nam tổ chức hồi cuối tháng 6, ông Eric Sito – Giám đốc khu vực Đông Nam Á của Tập đoàn SeekAsia đã chỉ ra một số thách thức trong quá trình tuyển dụng nhân sự tại Việt Nam.

Ông Eric Sito có hơn 15 năm tư vấn giải pháp chiến lược tuyển dụng nhân sự cho các doanh nghiệp đa quốc gia và các công ty vừa và nhỏ trong khu vực Đông Nam Á. Nhận định rằng việc tuyển dụng nhân sự tại Việt Nam đang phải đối mặt với 3 thách thức, đó là thách thức về đẩy mạnh thương hiệu tuyển dụng, về tạo nguồn thông tin tuyển dụng đa dạng và cuối cùng là thách thức ở giai đoạn sàng lọc và ra quyết định tuyển dụng. Ông Eric cũng đề xuất các phương pháp để các doanh nghiệp có thể vượt qua những thách thức đó khi tuyển dụng.

thach thuc tuyen dung 1

Đẩy mạnh thương hiệu tuyển dụng thế nào?

Để tạo nguồn và thu hút ứng viên, các công ty cần phải giải quyết thách thức đầu tiên để đẩy mạnh thương hiệu tuyển dụng. Có 4 bước cần thực hiện:

- Kiểm tra các nhận định về môi trường làm việc của công ty, thông qua việc thu thập các đánh giá này trên mạng xã hội, các diễn đàn hoặc thông qua tính năng "Nhận xét công ty" - một tính năng mà sắp tới JobStreet.com sẽ đưa ra thị trường

- Xác định một thông điệp có thể tạo nên tiếng vang về công ty dựa trên những khía cạnh nổi trội, điểm mạnh hoặc những điều được yêu thích về công ty, những điểm nhấn thu hút ứng viên mong muốn làm việc cho công ty

- Truyền tải và lan truyền thông điệp đó trên các kênh khác nhau

- Đánh giá lại những nỗ lực này (đo hiệu quả của các việc đã làm)

Một thương hiệu tuyển dụng tốt sẽ thu hút ứng viên tốt ứng tuyển.

Phải tạo nguồn tuyển dụng đa phương tiện

Tuy nhiên, Thương hiệu tuyển dụng không phải là câu chuyện có thể thay đổi cục diện chỉ qua 1 đêm và nhiệm vụ khẩn cấp của các chuyên gia nhân sự là vẫn phải nhanh chóng bổ sung người cho các vị trí đang cần tuyển. Do đó, phương án Tạo nguồn tích hợp là một giải pháp tích cực. Vậy làm thế nào để có được phương án tạo nguồn tích hợp?

Chuyên viên nhân sự cần thảo luận sớm hơn với phương thức phân tích chi tiết về công việc cần tuyển với Người quản lý tuyển dụng chính (Hiring Manager) để có được bảng phân tích công việc nhằm tạo ra nhiều mẫu tin tuyển dụng cho vị trí cần tuyển. Vì trên thực tế, chỉ một mẫu tin tuyển dụng có thể không đủ hiệu quả và tốn nhiều thời gian chờ đợi.

Việc mở rộng tin tuyển dụng theo cả chiều ngang và chiều dọc công việc sẽ giúp nâng cao khả năng tương tác đến ứng viên theo chiều rộng và dễ dàng xây dựng một "ngân hàng ứng viên" thuận lợi cho việc sàng lọc hồ sơ.

Giải pháp tạo nguồn đa phương tiện bao gồm tổ hợp mở rộng đa tin tuyển dụng; tìm kiếm hồ sơ ứng viên tài năng; đưa ra thông điệp riêng cho ứng viên mục tiêu; làm báo cáo thị trường chuyên sâu; tổ chức ngày hội phỏng vấn trực tiếp được kết hợp đúng thời điểm... sẽ giúp các chuyên viên nhân sự giải quyết được thách thức này.

Ngoài ra, phương thức tạo nguồn tích hợp còn mang đến nhiều sự lựa chọn ứng viên cũng như tạo được "ngân hàng dự trữ ứng viên" lớn hơn, phù hợp hơn và đáp ứng nhanh yêu cầu của Hiring Manager.

Vượt qua thách thức ở bước sàng lọc và ra quyết định tuyển dụng

Có 4 điểm kiểm tra quan trọng cần lưu ý để đánh giá quá trình tuyển dụng:

(1) Độ hấp dẫn của thương hiệu có thể số hóa qua tỷ lệ “Lượng xem mẫu tin/Lượng ứng viên phù hợp”. Tỷ lệ này xác định tiếng tăm của Thương hiệu và độ hấp dẫn của công việc đối với những ứng viên có hồ sơ việc làm phù hợp với yêu cầu của vị trí công việc đang cần tuyển. Những thương hiệu phổ biến và đáng tin cậy sẽ có lượng xem nhiều hơn và kéo theo là lượng ứng tuyển cao hơn.

(2) Sự thu hút của công việc qua tỷ lệ “Ứng tuyển/Lượng xem mẫu tin”. Tỷ lệ này chính là số người nộp đơn ứng tuyển cho vị trí công việc trong số những người đã xem mẫu tin tuyển dụng. Nó chỉ ra sự liên quan của vị trí công việc, mức độ hấp dẫn của công việc được miêu tả và số lượng người ứng tuyển.

(3) Mức độ Sàng lọc hiệu quả dựa trên tỷ lệ “Số lượng Sàng lọc/số lượng ứng tuyển”. Tỷ lệ này là số lượng ứng viên mà Nhân sự dự định gọi phỏng vấn được chọn lọc từ những người ứng tuyển. Thông thường, chuyên viên nhân sự sẽ hỗ trợ Người quản lý đang có nhu cầu tuyển dụng sàng lọc ứng viên. Càng cụ thể các yêu cầu công việc thì số lượng ứng viên được chọn lọc càng nhiều.

(4) Tỷ lệ tuyển dụng thông qua tỷ số “Số người được tuyển dụng/Số lượng Sàng lọc”. Đây là tỷ lệ nói lên sự thành công của toàn bộ quá trình tuyển dụng.

Bộ phận Nhân sự cần tự đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời cho việc ‘Mình đã lựa chọn đúng chuyên ngành của ứng viên cần tuyển chưa?’ và ‘Mình đã làm việc rõ ràng với người quản lý tuyển dụng chính vào thời điểm sớm hơn chưa?’ để đảm bảo sự hiệu quả của công tác Sàng lọc và Tuyển dụng.

Và đây cũng là cách giải quyết cho thách thức thứ 3: Chủ động tự kiểm tra đánh giá và dự đoán tỷ lệ trên từng điểm kiểm tra quan trọng sẽ giúp các chuyên gia nhân sự có cái nhìn tổng thể và toàn diện cho việc lên kế hoạch cải thiện kết quả tuyển dụng.

BÍCH TRÂM

Cách đây mười năm, truyền thông xã hội vẫn còn trong giai đoạn sơ khai. Tiếp thị di động, nội dung hoặc dữ liệu lớn còn chưa được nghe nói đến. iPhone cũng chỉ mới xuất hiện vào đầu năm 2007. Hiện giờ, chúng ta đang ở trong một thời điểm tương tự nếu nói đến tương lai của tiếp thị thập niên tới. Nhiều công nghệ quan trọng sẽ định hướng ngành tiếp thị chỉ đang bắt đầu nổi lên.

Không có cách nào dự đoán hoàn hảo về tương lai, nhưng chúng ta có thể nhìn vào công nghệ hôm nay để có những đánh giá cơ bản. Dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo sẽ phát triển liên tục và tương tác một cách đầy đủ hơn với thế giới thực. Từ đó, cách mà chúng ta xác định và phục vụ khách hàng sẽ thay đổi rất khác so với hiện nay.

w620h405f1c1 files articles 2017 1204145 xu huong cong nghe nganh tiep thi doanhnhansaigon

Giọng nói và giao diện

Tại Consumer Electronic Show (Triển lãm điện tử tiêu dùng – CES) vào đầu năm nay, trợ lý ảo nhận dạng giọng nói Alexa của Amazon đã gây ngạc nhiên lớn cho đám đông. So với trợ lý ảo Siri của Apple, thiết bị được tích hợp trong loa thông minh Amazon Echo này đã tiến xa hơn, được bổ sung những kỹ năng và hoạt động như các ứng dụng trên một điện thoại thông minh. Sản phẩm cạnh tranh của Google là Google Home cũng có tính năng tương tự và họ gọi là “actions” (hành động).

Một số nhà sản xuất tivi thậm chí đã tạo các sản phẩm tích hợp với Alexa để khách hàng có thể chuyển kênh mà không cần phải tìm bộ điều khiển. Các công ty như Ford, Huawei, LG, cũng như nhiều công ty khởi nghiệp, đều công bố những sản phẩm đồ gia dụng, điện thoại, xe hơi và các tiện ích tích hợp Alexa. Theo Scott Brinker, người sáng lập của trang Chief Marketing Technologist, đã có khoảng 1.000 thương hiệu chủ động hành động trong lĩnh vực này.

Chúng ta cũng sớm nhìn thấy xu hướng tương tự đối với giao diện hình ảnh, bắt đầu bằng việc nhận diện mặt thay vì nhập mật khẩu và nhanh chóng chuyển sang cho phép chúng ta chỉ bằng tay hay cử chỉ để tương tác với các không gian thực tế ảo và thực tế tăng cường.

Phân tích cá tính và tâm trạng

Mattersight là một công ty ra đời cách đây mười năm và sử dụng thuật toán trí tuệ nhân tạo kết hợp với một phương pháp do NASA phát triển nhằm đánh giá tính tương thích của các phi hành gia được gửi vào không gian cùng với nhau để tạo lập hồ sơ khách hàng. Khi tập hợp dữ liệu, hệ thống này sẽ có thể “bắt cặp” khách hàng với các đại diện bán hàng có tính cách tương thích, và như thế có thể phục vụ họ tốt hơn.

Những công nghệ này đang tăng tốc chóng mặt. Nếu như công nghệ của Mattersight là tiên tiến thì cũng có những công cụ phân tích cá tính và tâm trạng cơ bản hơn đang hiện diện trên các nền tảng như Amazon Web Services, Watson Developer Cloud và Microsoft Azure. IBM thậm chí hy vọng rằng trong năm năm nữa chúng ta sẽ có thể phân tích các dạng rối loạn thần kinh qua giao diện thoại.

Sáng tạo trải nghiệm tùy chỉnh

Khi bước vào một cửa hàng, chúng ta thường mặc định rằng một người bán hàng sẽ tiếp cận, hỏi vài câu và trong vài giây sẽ hình thành một trải nghiệm bán hàng đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Nếu đó là cửa hàng bạn thường đến, bạn mong đợi người bán hàng đã biết sở thích của mình và điều chỉnh trải nghiệm đó cho phù hợp với nhu cầu của bạn vào ngày hôm đó.

BloomReach là một nền tảng với chức năng tương tự cho thương mại điện tử. Nếu bạn muốn mua một chiếc đầm cocktail, ứng dụng này sẽ lập tức chỉ cho bạn những món hàng dựa trên các hành vi trong quá khứ của bạn cũng như các xu hướng mua sắm gần đây. Công ty này mới đây đã mua lại Hippo – một công ty về quản trị nội dung để mở rộng phạm vi trải nghiệm có thể mang lại cho người tiêu dùng. Dần dần, dạng cá nhân hóa này sẽ di chuyển vào thế giới thực. Khi mua vé đi xem một sự kiện thể thao, bạn sẽ nhận được vòng đeo RFID (công nghệ nhận dạng đối tượng bằng sóng vô tuyến) với những câu hỏi ngắn về đội mà bạn yêu thích, “size” áo và những sở thích khác. Khi bạn đến sự kiện, các quầy của nhà tài trợ sẽ trao cho bạn chiếc T-shirt vừa vặn và nếu họ biết bằng bạn từng nhận áo từ nhà tài trợ khác, họ sẽ tặng bạn nón chẳng hạn. Đi đến đâu bạn cũng sẽ cảm thấy mình giống như một “VIP”.

“Ứng dụng của chúng tôi dựa trên dữ liệu và bối cảnh. Khi nguồn dữ liệu được mở rộng và cải thiện để bao gồm cả hồ sơ cá tính và tâm trạng, các nhà tiếp thị có thể mang lại cho khách hàng những trải nghiệm tốt nhất, trong thời gian thực và ở quy mô rộng”, Samuel Moore của Công ty BloomReach nói.

Một điều đã rõ ràng từ bây giờ là chúng ta cần chuyển đổi từ tạo thông điệp sang tạo trải nghiệm. Và trong quá trình này, công nghệ hay máy sẽ đóng vai trò trung gian. Thuật toán có thể phân tích và nhắm đúng mục tiêu, nhưng chỉ có người mới thực sự tạo cảm hứng cho người khác.

LONG HỒ/DNSGCT

Bạn muốn tăng lượng traffic cho website của mình? Bạn muốn xây dựng chiến lược Content Marketing thật hiệu quả và đến với nhiều người hơn? Tham khảo một số thủ thuật hay dưới đây để giúp website của bạn thêm chất lượng và chuyên nghiệp hơn.

nhung dieu can biet de lam ra content marketing tuyet voi

1. Đúng thời điểm

Hầu hết các blog thành công đều viết về các sự kiện nổi bật. Lý do họ làm vậy bởi họ biết mọi người sẽ tìm thông tin về nó, đồng nghĩa với việc cơ hội [traffic] sẽ lớn hơn rất nhiều?

Vậy làm cách nào để biết về các sự kiện nổi bật này? Google Trends – Công cụ này sẽ đưa một list các sự kiện nóng, và nếu blog của bạn viết về một trong các sự kiện này, sẽ dễ dàng hút traffic hơn.

2. Số lượng đôi lúc lại quan trọng hơn chất lượng?

Tuỳ theo mục tiêu, bạn có thể chú trọng vào số lượng hoặc chất lượng. Nếu mục tiêu của bạn là số lượng người truy cập, và bạn muốn con số đó lên tới 5, hoặc thậm chí 10 nghìn người, thì có lẽ số lượng phát huy hiệu quả tốt hơn.

Điều này không phải do mạng xã hội mà là do Google. Những trang sản xuất trên 4 nội dung 1 ngày thường sẽ nhận được nhiều hơn 55% lượng traffic từ công cụ tìm kiếm.

Trước hết, hãy đảm bảo rằng bạn không viết những nội dung sai lệch hoặc không có ý nghĩa gì. Sau đó, với số lượng bài viết, bạn có thể chọn từ 3-5 nội dung 1 ngày, nếu bạn thực sự muốn nội dung của mình được nhiều người đọc hơn. Có thể chia nhỏ một nội dung lớn, viết những nội dung đơn giản, không cần nhiều nghiên cứu, tìm kiếm như quotes hay case study.

3. Nhưng chất lượng tạo ra sự trung thành

Như đã nói ở trên, bạn có thể viết những nội dung vô cùng chất lượng, nhưng điều này không ảnh hưởng tới traffic. Có những trang có nội dung vô nghĩa nhưng post rất nhiều bài một ngày lại dễ tăng traffic hơn.

Vậy tại sao phải viết nội dung chất lượng? Nếu biết nhìn xa, bạn sẽ nhận ra vấn đề là, nếu quá nhiều nội dung và nội dung nào cũng kém chất lượng, công chúng mục tiêu sẽ vào xem 1 lần và chẳng bao giờ quay lại nữa. Ngược lại, những nội dung thật sự chất lượng và có ích với người dùng sẽ khiến họ quay lại và đọc những bài tiếp theo. Dần dần sẽ tạo được tiếng vang.

Việc này cũng giống kinh doanh nhà hàng vậy. Bạn muốn gây sự chú ý bằng đồ ăn ngon hay là những chiêu trò hút khách?

4. Uy tín, danh tiếng của bạn ảnh hưởng đến nội dung bạn viết

Đa số những người viết blog nổi tiếng đều có mối quan hệ rất rộng. Tất nhiên là sau khi viết blog thì họ sẽ quen được nhiều người hơn, tuy vậy, từ trước khi bắt đầu quá trình khởi tạo nội dung, họ đều đã có sẵn những mối quan hệ trong tay.

Tại sao điều này lại cần thiết? Có những người bạn, người có chỗ đứng chia sẻ hoặc [comment] vào nội dung của bạn, đương nhiên nội dung của bạn sẽ đi xa hơn và có chỗ đứng hơn.

Vì thế, người khởi tạo nội dung không thể chỉ ngồi một chỗ cả ngày. Họ phải đi nhiều nơi, quen nhiều người, như thế vừa mở rộng được mối quan hệ vừa có thể học thêm rất nhiều điều từ cuộc sống.

5. Hãy luôn nghe theo số liệu, không phải là cảm tính

Luôn luôn có sẵn những công cụ để bạn nghiên cứu về lượng fan, số lượng tương tác, nội dung và thời gian mà công chúng mục tiêu yêu thích. Không có lý do gì để không sử dụng những thông tin này nhằm giúp tăng traffic.

Thử nhiều khoảng thời gian khác nhau, viết nhiều nội dung khác nhau, thậm chí thử nhiều voice khác nhau (nếu voice hiện tại không phát huy hiệu quả tốt), chỉ có như thế mới biết được mình nên làm gì, và làm như thế nào mới có hiệu quả.

6. Tiêu đề, tiêu đề, xem lại tiêu đề

Nhiều copywriter nổi tiếng dành thời gian chăm sóc cho tiêu đề nhiều y như thời gian họ dành để edit cả bài viết. Nếu tiêu đề không hay, công chúng mục tiêu sẽ không quan tâm tới nội dung bên trong. Đó chính là lý do để những người khởi tạo nội dung thường phải cân nhắc rất nhiều về tiêu đề của mình.

Nên thuê những người có kinh nghiệm viết tiêu đề ngắn gọn, gây được sự chú ý. Điều quan trọng là họ phải viết tốt và thật sự sáng tạo. Bạn không thể dạy ai phải sáng tạo như thế nào, nên tốt nhất là thuê người đã có “máu nghề nghiệp” trong người.

7. Không phải lúc nào cũng viết thì mới nhận được thành quả

Một khi trang của bạn đã đạt được một độ lớn nhất định, bạn có thể tăng traffic bằng việc sử dụng bài viết từ nguồn khác. Có rất nhiều nội dung hay và hữu ích trên mạng chưa được nhiều người chú ý tới. Đây là trường hợp đôi bên cùng có lợi (Win-Win Situation), bạn giúp quảng bá nội dung đó, và cũng có nội dung hay cho trang của mình.

Bên cạnh đó, vẫn phải tập trung sáng tạo nội dung cho riêng mình. Khi đăng lại bài viết của

ai thì phải ghi rõ nguồn kèm họ tên, vài lời giới thiệu, thể hiện sự tôn trọng của mình với tác giả bài viết.

8. Cố gắng mang nội dung đi mọi nơi có thể

Khó khăn nhất là khoảng thời gian mới khởi tạo blog, khi mà chẳng ai biết gì về bạn cả. Lúc ấy, bạn phải bằng mọi cách có thể đưa nội dung tới tay công chúng mục tiêu. Nhờ những người bạn, gửi email, chạy Facebook Ads, [SEO] vv.. hãy làm mọi điều có thể cho những đứa con của mình.

Phan Công

Một trong các yếu tố chính góp phần cho sự thành công rực rỡ của Google đến từ những chiến lược quản lý nhân sự “không giống ai" của mình.

Điều đáng ngưỡng mộ trong cách ông lớn công nghệ này điều hành hơn 62.000 “Googler” (tên thân mật của nhân viên Google) của mình chính là việc lãnh đạo phòng nhân sự dựa trên dữ liệu thực tế, chứ chẳng phải những thứ thuần túy trên giấy bút, để tiến hành chiến lược quản trị và ra quyết định.

Thế nên, dù thoạt nhìn có vẻ phản khoa học so với thế giới, nhưng Google, nhờ phương thức kỳ lạ của mình, vẫn thản nhiên đứng hạng nhất danh sách “Những doanh nghiệp đáng làm việc nhất thế giới" do Fortune bình chọn trong suốt 8 lần liên tiếp.

Laszlo Bock - Trưởng bộ phận Nhân sự của Goole đã chia sẻ những bí quyết quản lí nhân viên đặc sắc, “chỉ lưu hành nội bộ" của doanh nghiệp đáng giá hơn 500 tỷ đô la này.

w620h405f1c1 files articles 2017 1204005 google

1. Để nhân viên “tự do trong khuôn khổ”

Ở nơi danh giá này, kế hoạch quản lý nhân sự cũng có phần đặc biệt đôi chút. Nếu so sánh thì cách vận hành của ban quản trị Google cũng giống như việc “tay phải làm gì, tay trái chẳng hề hay biết” vậy. Có thể nhiều người sẽ nghĩ chiến lược của Google có phần thiên vị, hay thay đổi hoặc thiếu tầm nhìn vĩ mô.

Nhưng không, các bộ óc lỗi lạc tại Google phát hiện ra rằng khi những nhà lãnh đạo thường xuyên nhất quán, công bằng cũng như “tạo điều kiện” để cấp dưới “bắt bài” trong lúc ra quyết định thì nhân viên sẽ cảm thấy tự do hơn và có trải nghiệm làm việc tốt hơn.

Lý giải cho việc này, Laszlo Bock nói rằng khi thực hiện chiến lược quản trị như thế, nhân viên sẽ biết bản thân được tự do trong một chừng mực nhất định và có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn trong khuôn khổ đó. Nếu một người quản lý kiềm kẹp, can thiệp sâu và nhúng tay vào quá nhiều việc, cấp dưới sẽ chẳng biết đường nào mà lần. Khi ấy, phần lớn trường hợp nhân viên sẽ không biết điều gì nên hay không nên làm, dần dà dẫn tới sự bức bách và bó hẹp trong môi trường làm việc.

2. Đặt giá trị tinh thần làm mục tiêu kinh doanh

Khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp, Google chú trọng nhất vào nhiệm vụ của mình, đó là “Tổ chức thông tin của thế giới và khiến chúng trở nên hữu ích cũng như dễ dàng truy cập trên phạm vi toàn cầu”.

Điểm khác biệt của nhiệm vụ này so với nhiều “tuyên ngôn" của các doanh nghiệp khác chính là nó không hề đề cập đến lợi nhuận, thị trường hay bất kỳ vấn đề nào liên quan đến cổ phần và khách hàng cả. Với nhiều người, nhiệm vụ này trông không giống một mục tiêu kinh doanh, thậm chí nó dường như không có điểm kết thúc.

Theo Laszlo Bock: “Nhiệm vụ thế này giúp cho mỗi cá nhân tìm ra được ý nghĩa trong công việc của mình, vì nó gắn liền với các giá trị đạo đức và tinh thần hơn chỉ đơn thuần là một mục tiêu kinh doanh”.

Chính điều này là thứ thu hút những cá nhân tài năng khao khát một công việc đầy tham vọng và cảm hứng. Không có bất kỳ thứ gì mạnh mẽ hơn việc nhận thức được công việc của bản thân mình đang góp phần tích cực thay đổi thế giới cả. Google mang đến một công việc như thế!

google 1

3. Sẵn sàng chia sẻ mọi thứ

Sau nhiệm vụ, tính minh bạch là cột trụ thứ hai làm nên văn hóa của Google. Đơn cử, một kỹ sư phần mềm mới nhận việc sẽ có quyền truy cập gần như tất cả mã hệ thống ngay trong ngày đầu tiên. Các Googler sẽ được cấp quyền truy cập lộ trình sản phẩm, kế hoạch ra mắt, báo cáo tình trạng nhân viên hằng tuần, mục tiêu theo từng quý và ai nấy đều biết người khác đang làm gì. Google chia sẻ tất cả vì hết thảy đều tin tưởng nhau sẽ bảo mật thông tin.

Sự “thoáng" thể hiện qua việc chia sẻ thông tin của Google khác hoàn toàn so với lối quản trị truyền thống, phân cấp, chỉ huy và kiểm soát đồng thời cũng xóa nhòa sợi dây liên kết giữa nhân viên trong nội bộ doanh nghiệp. Lợi ích tối cao của cách tiếp cận này chính là việc mỗi cá nhân tại Google đều biết chuyện gì đang diễn ra tại công ty.

Chia sẻ thông tin cũng góp phần nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, liên hiệp của các phòng ban, giảm bớt tính cạnh tranh cũng như việc “đâm sau lưng" hay thói quan liêu của cấp trên với cấp dưới. Bock nói rằng chính sách này “giúp mọi người hiểu được sự khác nhau trong mục tiêu giữa các phòng ban, nhờ đó tránh việc ganh đua nội bộ”.

Về “văn hoá chia sẻ” trong doanh nghiệp, Bock ngắn gọn: “Nếu doanh nghiệp của bạn thực sự tự tin nói rằng nhân viên của chúng tôi là tài sản quý giá nhất thì việc minh bạch và chia sẻ này phải là mặc định. Nếu không làm được thì bạn chỉ đang tự gạt mình gạt người mà thôi. Một mặt, bạn nói nhân viên của mình quan trọng nhưng mặt khác, bạn lại đối xử với họ chẳng ra chi cả”.

4. Tiếp thu mọi ý kiến từ nhân viên

Tại “nơi làm việc được ham muốn nhất trên thế giới" này, tiếng nói của nhân viên là nền tảng quan trọng thứ ba, giúp định hình văn hóa doanh nghiệp. Nhân viên được đóng góp suy nghĩ hay nguyện vọng của mình, còn ban lãnh đạo tin vào sự thành tín và trung thực từ cấp dưới đến mức cho họ đồng tham vào việc đề xuất ý kiến cho doanh nghiệp. Đây có thể là cơn ác mộng ở nhiều nơi, nhưng tại Google, nó lại phát huy hiệu quả đến không ngờ. Nhiều chiến lược quản trị nhân sự của ông lớn công nghệ đều xuất phát từ chính những người làm công ăn lương tại đây.

Vào năm 2009, các Googler than phiền với ban lãnh đạo về việc ngày càng khó hoàn thành chỉ tiêu đề ra do mức độ tăng trưởng quá nhanh của công ty. Nhận thức được sự đúng đắn trong ý kiến của số đông cấp dưới, CFO của Google khi đó đã cho tiến hành một chương trình dành riêng cho Googler với tên gọi "Bureaucracy Busters" (Phát hiện bất cập). Ý tưởng này cho phép chính các Googler nói lên những bức xúc của mình đồng thời giúp công ty khắc phục chúng.

Khỏi nói cũng biết, tinh thần của nhân viên được “lên dây cót” mạnh mẽ như thế nào khi đích thân họ được chung tay trong việc tổ chức và cải thiện hệ thống làm việc nhằm giúp cho doanh nghiệp của mình ngày một đi lên.

5. Tuyển dụng không qua điểm số

Với cương vị là một chuyên gia phân tích dữ liệu, Laszlo Bock đã từng trả lời tờ New York Times rằng GPA (điểm trung bình tích lũy) hay điểm bài kiểm tra chẳng có ý nghĩa gì trong việc tuyển lựa nhân viên cả, trừ phi doanh nghiệp của bạn sẵn sàng đào tạo họ lại từ đầu.

Người đứng đầu bộ phận nhân sự của Google phân tích: “Sau 2 hay 3 năm, bạn sẽ nhận ra những kỹ năng cần có để sống sót tại Google hoàn toàn chẳng có mối liên hệ nào với ngày còn đi học, vì những gì bạn được dạy khi còn ngồi ở giảng đường hoàn toàn khác so với nơi đây. Về cơ bản, bạn sẽ dần khoác chiếc “áo mới”, cách tư duy, học hỏi và phát triển - mọi thứ đều khác đi”.

Thế nên, không khó để hiểu vì sao có đến 14% nhân viên một số phòng ban tại Google chưa bao giờ đặt chân vào giảng đường đại học.

LÊ DUY (theo Inc.)

Người ta thường hay đổ lỗi cho Amazon và sự gia tăng mua sắm trực tuyến, nhưng thực tế không phải như vậy...

Sự trỗi dậy của Amazon và hoạt động thương mại điện tử vẫn được xem là nguyên nhân gây ra tình trạng đóng cửa và phá sản hàng loạt trong ngành bán lẻ truyền thống của Mỹ.

Tuy nhiên, theo nhà tư vấn bán lẻ Doug Stephens, thương mại điện tử chỉ là một phần nguyên nhân. Ông nói: "Khi tính toán, có thể thấy rằng hiện tượng này không thể là do một mình Amazon được".

Doanh số thương mại điện tử đang gia tăng mạnh, với mức tăng 15% trong quý gần đây nhất, so với mức 4% của tổng doanh số bán lẻ.

Nhưng tổng doanh số thương mại điện tử chỉ chiếm 8,5% tổng doanh thu bán lẻ ở Mỹ. Theo số liệu của Cục Khảo sát Dân số Mỹ, 91,5% hoạt động bán lẻ vẫn được thực hiện tại các cửa hàng truyền thống.

Điều gì đang khiến các trung tâm mua sắm và các cửa hàng đóng cửa hàng loạt, nếu hầu hết người dân Mỹ vẫn đến các cửa hàng để mua sắm?

screen shot 2017 07 21 at 121657 pm

(Tỷ trọng doanh thu của các cửa hàng bán lẻ truyền thống trên tổng doanh thu bán lẻ,  từ Quý I/2016 tới Quý I/2017. Ảnh: BI)

Chắc chắn sự tăng trưởng của thương mại điện tử là yếu tố không thể bỏ qua. Nhưng có 2 yếu tố khác đóng vai trò lớn hơn: dư thừa số lượng các cửa hàng bán lẻ, và ngườ dân thay đổi thói quen tiêu dùng.

Trong những năm 1990, các chuỗi bán lẻ đã mở rộng rất mạnh, khiến nước Mỹ tràn ngập hàng trăm trung tâm mua sắm với kỳ vọng rằng nhu cầu sẽ tăng theo.

Theo John Clapp, giáo sư của Trung tâm Bất động sản Đại học Connecticut, nhu cầu chưa bao giờ bắt kịp tốc độ mở cửa hàng. Sau đó giai đoạn suy thoái kinh tế bắt đầu vào 2008, dẫn đến sự sụt giảm mạnh trong chi tiêu.

Clapp nói: "Bây giờ các cửa hàng bán lẻ tại Mỹ nhiều gấp 2 đến 3 lần nhu cầu thực tế của người dân".

online versus in store purchases chart03

(Tỷ trọng mua sắm trực tuyến (màu xanh đậm) so với tại cửa hàng truyền thống(màu xanh nhạt) của các ngành hàng. Ảnh: BI)

Việc mở quá nhiều cửa hàng bán lẻ đã dẫn đến sự sụt giảm doanh số bán lẻ tính theo mét vuông tại Mỹ. Theo một công ty phân tích bất động sản Green Street Advisors, một chuỗi cửa hàng như Sears sẽ phải đóng cửa gần 1/2 số cửa hàng để đưa doanh thu/m2 quay lại mức của năm 2006.

Nhiều nhà bán lẻ đã dự đoán doanh thu sẽ hồi phục sau cuộc suy thoái. Nhưng điều đó không bao giờ xảy ra đối với đa số các cửa hàng ở những trung tâm thương mại, chủ yếu là vì mọi người thay đổi thói quen mua sắm của họ.

screen shot 2017 07 21 at 33713 pm

(Phần trăm số cửa hàng mà các hãng bán lẻ phải đóng cửa để đưa doanh thu/m2 quay lại mức của năm 2006. Ảnh: BI)

"Mọi người đang đưa ra nhiều quyết định sáng suốt hơn về những gì họ mua, nơi mà họ chi tiêu, và cách họ chi tiêu", Stephens nói.

Cụ thể, người Mỹ giờ đây đang mua các trải nghiệm nhiều hơn là mua đồ. Xu hướng này đã gây ra thiệt hại nặng với các chuỗi bán lẻ quần áo.

Stephens cho biết xu hướng này là do sự phát triển của mạng xã hội. "Trải nghiệm cho phép người ta kể chuyện tốt hơn trên mạng xã hội so với việc mua những món đồ", ông nói.

Thêm vào đó người tiêu dùng cũng gia tăng chi tiêu trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như y tế, công nghệ và giáo dục.

screen shot 2017 07 21 at 40020 pm

(Số cửa hàng bán lẻ mà các hãng đã đóng cửa, tính từ đầu năm 2017 tới nay. Ảnh: BI/Fung Global Retail)

Và khi người ta đi mua sắm, họ cũng muốn săn tìm giá hời - một thói quen mà họ học được trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Các cửa hàng chuyên bán đồ giảm giá như TJ Maxx, Marshalls, và Ross Stores đang phát triển, trong khi các cửa hàng lớn như Sears và Macy đang gặp khó khăn.

Rồi sẽ đến lúc thương mại điện tử đóng một vai trò lớn hơn trong ngành bán lẻ do sự tăng trưởng nhanh chóng, nhưng bây giờ thì chắc chắn nó chưa phải là chiếc đinh cuối cùng đóng vào quan tài của ngành bán lẻ truyền thống.

Bá Ước (Nguồn: BI)

Trong nhiều lần về miền Tây tìm hiểu về các doanh nghiệp khởi nghiệp tại đây, được nghe nhiều câu chuyện thất bại trong quá khứ của các anh chị mới biết được nguyên nhân thất bại khá đa dạng và cũng khác nhau giữa các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng chung quy thường do không tạo ra được sự khác biệt trong sản phẩm, hao tốn quá nhiều chi phí marketing nhưng không tăng được doanh số, quản lý nhân sự không tốt dẫn đến thất thoát tài sản, yếu kém trong quản trị tài chính...

Thất bại thường dẫn đến những hậu quả nhất định trong cuộc sống của người khởi nghiệp, nhẹ thì hao tốn tài sản, nặng thì nợ nần, xung đột với cộng sự, gia đình... Tùy vào mức độ thất bại mà chúng tạo ra nỗi ám ảnh cho người khởi nghiệp.

w620h405f1c1 files articles 2017 1203916 anh thay startup slider 4 out

Với người có bản lĩnh, được trang bị kiến thức tốt, thất bại giúp họ rút ra những bài học quý báu cho những lần khởi nghiệp tiếp theo. Nhờ vào thất bại trong quá khứ mà họ sẽ viết nên những câu chuyện về thành công trong tương lai.

Tuy nhiên, không phải tất cả đều nhận ra được những bài học quý giá từ thất bại, mà vẫn còn một tỷ lệ khá lớn bị "ám ảnh", không dám khởi nghiệp lại, hoặc khởi nghiệp lại nhưng không dám triển khai các ý tưởng lớn.

Một chị tái khởi nghiệp (ở Đồng Tháp) tâm sự về thất bại trong quản lý đội ngũ kinh doanh dẫn đến thất thoát tiền bạc đến mức bị phá sản. Từ đó, nỗi ám ảnh cứ đeo bám, khiến chị không dám tuyển dụng đội ngũ bán hàng bên ngoài mà tự mình đảm nhận việc tìm kiếm khách hàng. Do vậy, mặc dù đã tái khởi nghiệp hơn 2 năm mà rất khó phát triển được thị trường, dù ý tưởng sản phẩm khá tốt.

Trường hợp khác, doanh nghiệp thất bại do bán chịu, không thu hồi được tiền, trong khi vốn lưu động của công ty chủ yếu là vốn vay. Khi xảy ra thiếu hụt vốn lưu động, không thu được tiền, ngân hàng siết nợ, mất khả năng thanh toán nên dẫn đến phá sản.

Nỗi ám ảnh đó đeo bám họ cho đến lần khởi nghiệp tiếp theo, không dám bán chịu cho bất kỳ khách hàng nào nên khó thiết lập được mạng lưới khách hàng hợp tác lâu dài và ổn định. Vì thế, dù đã tái khởi nghiệp được 3 năm mà công ty không mở rộng được quy mô.

Sở dĩ tồn tại "nỗi ám ảnh" thất bại là do người khởi nghiệp chưa lý giải được cơ sở khoa học, quy luật đưa đến sự cố thất bại. Chẳng hạn như trường hợp nhân viên bán hàng làm thất thoát tài sản là do thiếu cơ chế quản lý việc thu và nộp tiền bán hàng, chứ không phải do thuê người ngoài làm nhân viên bán hàng.

Trường hợp bán chịu, không thu được tiền là do chưa thiết lập được tiêu chí quyết định bán chịu đúng đối tượng chứ không phải là tất cả khách hàng đều không đáng tin cậy. Khi chưa lý giải đúng nguyên nhân đưa đến sự cố thất bại thì "cái bẫy tâm lý thất bại" được giăng ra, người khởi nghiệp khó vượt qua được.

Để thất bại không còn là nỗi ám ảnh, đòi hỏi người khởi nghiệp cần có bản lĩnh cũng như cần được trang bị các kiến thức quản trị công ty khởi nghiệp. Khi gặp thất bại biết đánh giá, phân tích nguyên nhân của sai lầm để thẩm thấu được bài học kinh nghiệm, từ đó lần khởi nghiệp tiếp theo sẽ làm tốt hơn, chứ không phải là bỏ cuộc, không dám đưa ra các quyết định làm ăn lớn khi tái khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, người khởi nghiệp cần xây dựng đội ngũ biết động viên lẫn nhau, tích cực giãi bày, chia sẻ cho nhau mỗi khi gặp sự cố. Khi đó mọi người sẽ thấu hiểu nguyên nhân dẫn đến thất bại, giúp rút ra những bài học quý báu cho lần khởi nghiệp tiếp theo.

TS. HUỲNH THANH ĐIỀN

Ý Kiến