“Vị thần doanh nhân” Inamori Kazuo cho rằng, để thành một doanh nhân tuyệt vời, mục tiêu là vô cùng quan trọng, dù đó là vì nhân viên, vì gia đình của nhân viên, vì các cổ đông, vì khách hàng, vì nhà cung ứng hay vì xã hội, vì đất nước.

Nếu một doanh nhân để cái tôi ích kỷ tham lam chi phối, thua cuộc trong trận chiến tâm lý của chính mình, họ sẽ thất bại.

Sau đây là phần tóm tắt những bài học, triết lý kinh doanh đầy tính thực tiễn của doanh nhân Inamori Kazuo - người sáng lập Tập đoàn đa ngành Kyocera, nhà cố vấn có quyền hạn cao nhất của Hãng cung cấp dịch vụ mạng viễn thông KDDI và cũng là người “tái sinh” Hãng hàng không Nhật Bản (Japan Airlines) - từ cuốn Triết lý kinh doanh của Inamori Kazuo.

Ông là một trong những doanh nhân "huyền thoại" của Nhật Bản, cũng là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế và Cách sống.

Chương I: Câu chuyện mang tên Inamori Kazuo

Từ khi còn trẻ, tôi đã có tư duy mang tính triết học về con người, về giới kinh doanh. Ngoài sách chuyên ngành, những cuốn sách gối đầu giường của tôi chủ yếu là về Phật giáo và Triết học. Tôi thường xếp chúng ở trên giường và mở ra nghiền ngẫm trước khi đi ngủ. Rồi cuộc đời sẽ đi về đâu? Sinh vật gọi là loài người phải có cách sống như thế nào? Tôi luôn trăn trở về những vấn đề mang tính triết học như vậy ngay từ nhỏ.

DN 1

Inamori Kazuo

Nếu sinh ra muộn hơn 20 năm thì có lẽ tuổi trẻ của tôi sẽ được sống trong một xã hội ổn định hơn, nền kinh tế cũng có những bước phát triển vững chắc nhất định. Thế nhưng, trong suốt quá trình trưởng thành, tôi đã tự tìm kiếm cho mình những chân lý mang tính triết học, tự xây dựng nên nhân sinh quan, giá trị quan, và tôi muốn nhân viên của mình làm việc với những tư tưởng mang tính triết học đó. Cũng có lúc tôi than vãn: “Sao mình phải tự làm khổ mình thế này?”, nhưng đến nay, khi ngẫm lại, tôi muốn cảm ơn cuộc đời đã mang lại cho mình những nghịch cảnh tuyệt vời đến vậy.

Nếu gặp phải khó khăn, đừng chạy trốn, hãy đón nhận bằng cách đối mặt trực diện với nó, và đó chính là hạt giống giúp bạn trưởng thành. Tùy theo cách bạn tiếp nhận khó khăn, kết quả bạn nhận được có thể là tích cực hay tiêu cực. Nếu những doanh nhân bị ảnh hưởng bởi những thông tin bên ngoài rằng nền kinh tế đang có chuyển biến xấu và nghĩ “môi trường kinh tế không tốt”, thì chính họ là nguyên nhân khiến việc kinh doanh của công ty trì trệ.

Điều hành một công ty giống như lái chiếc xe đạp gắn cánh quạt và có thể bay lượn trên bầu trời. Nếu không thể lái tốt, xe có thể vì trọng lực mà rơi xuống giữa chừng. Môi trường xấu giống như bàn tay vô hình đẩy chiếc xe đạp đang bay rơi xuống đất. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những chiếc xe đạp vẫn còn mờ mịt về con đường sẽ đi, chỉ bay là là trên mặt đất một chút; bay cao hơn là doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn. Nếu những doanh nghiệp nhỏ và vừa nghĩ rằng “Ở chỗ này thôi cũng được rồi”, họ sẽ giậm chân tại đó.

Nếu muốn kế hoạch mới của mình mang lại thành quả nhất định, hãy cố gắng hết sức có thể, đừng để bóng ma nản chí vây quanh, cản đường bạn tiến về phía trước. Nếu không làm được như vậy, bất kỳ việc gì, dù có thể thực hiện được chăng nữa, cũng đều là không tưởng. Khi tiếp quản Japan Airlines (JAL), tôi cũng nhắc lại điều này. Tôi muốn nhân viên của mình, cũng như chính bản thân tôi, hiểu rằng nếu muốn tái sinh Hãng thì phải quyết tâm làm, phải làm bất cứ điều gì.

Không phải người đứng đầu hay doanh nhân nào của doanh nghiệp lớn cũng có ý chí đó. Họ đổ lỗi vì nền kinh tế suy thoái, vì công ty của họ không có một kỹ thuật nào đó. Quả thực, quãng thời gian mờ mịt của Nhật Bản xuất phát từ những người lãnh đạo dẫn dắt công ty, nhân viên mình bước đi trên thương trường nhưng lại thiếu ý chí mạnh mẽ.

Nếu gặp phải khó khăn, đừng chạy trốn, hãy đón nhận bằng cách đối mặt trực diện với nó, và đó chính là hạt giống giúp bạn trưởng thành.

Mục đích ban đầu khiến tôi thành lập Công ty Ceramic Kyoto là muốn công bố kỹ thuật của Inamori Kazuo cho thế giới. Tuy nhiên vài năm sau, khi đã có vài chục nhân viên, họ đã bộc bạch nỗi bất mãn: “Công ty thì mới thành lập, đến phòng ăn cũng không có, liệu công ty như thế thì có tương lai tốt đẹp không?”. Khi đó, tôi bừng tỉnh ngộ. “Giới thiệu kỹ thuật của Inamori cho toàn thế giới” không phải là mục đích, nó là thứ có được sau khi nhân viên của tôi cảm thấy hạnh phúc. Với suy nghĩ như vậy, dù công ty đã kinh doanh được tới năm thứ ba, tôi vẫn quyết định thay đổi phương châm kinh doanh thành “Vì một tương lai hạnh phúc cả về vật chất lẫn tinh thần cho toàn thể nhân viên”.

Ngay cả khi quyết định vực dậy hãng Hàng không Nhật Bản, tôi cũng đã theo đuổi phương châm này.

Nói một cách thẳng thắn nhất, doanh nhân là người mang sứ mệnh bảo vệ, gầy dựng công ty lớn mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhân viên mình. Có lẽ, không có cách nói nào đúng đắn hơn thế.

Tôi cho rằng, lý tưởng nhất, đúng đắn nhất là khi có thể dựa trên công lý để vận hành công ty. Tuy nhiên, đáng tiếc là nhiều doanh nhân khi thành lập công ty lại bắt đầu bằng tham vọng và để tham vọng chi phối. Nhưng dù động cơ là gì đi nữa, điểm chung vẫn là phải trả giá bằng cách cố gắng hết sức, hy sinh bản thân. Tôi thường khích lệ học trò: “Khi em nghĩ rằng mình không thể cố gắng hơn nữa, đó mới là lúc công việc bắt đầu”. Bản thân tôi – người từ mình đứng ra thành lập công ty vào những năm 30 tuổi, 40 tuổi, đã không ít lần than vãn. Nhưng khi bước sang tuổi 50, tôi đã không còn than vãn nữa.

Khi đó, Kyocera đã có những bước tiến nhất định trên thị trường, tôi đã lập Quỹ Inamori và mở các khóa học Morikazu. Tôi đã kiêm nhiệm 3 vị trí: Tổng giám đốc Kyocera, Chủ tịch Quỹ Inamori và tham gia giảng dạy các khóa học. Đối với tôi, cả ba công việc đều là nhiệm vụ phải thực hiện vì xã hội, vì con người chứ không phải vì tham vọng. Công lý đã thúc đẩy tôi, khi ấy ở tuổi 50 với bừng bừng nhiệt huyết.

Chuẩn bị bước vào tuổi 80, tôi được thỉnh cầu hãy tái sinh JAL. Ở tuổi đó, tôi không thể dành nhiều thời gian cho công việc như trước. Thậm chí tôi còn không thể đi làm toàn thời gian được mà chỉ làm việc 3 ngày/tuần. Và thế là tôi nhận việc theo kiểu tuyển dụng tạm thời, không cần trả lương và nhận chức Chủ tịch JAL. Tôi cảm nhận đây chính là việc làm giúp ích cho đất nước và người dân Nhật Bản nên sẽ quyết tâm cố gắng hết mình.

Tại Nhật, sau khi trở thành doanh nhân của doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nhân hoàn toàn không có cơ hội được học về kinh doanh mà buộc phải đến những trường đào tạo cấp quản lý. Khắp Nhật Bản lúc đó hầu như không có trường đào tạo cấp quản lý về bản chất của kinh doanh, do đó tôi đã thành lập lớp học Morikazu với 8.000 người đang theo học.

DN 2Chương II: Tâm tư học trò của doanh nhân tài ba Inamori Kazuo

Takashi Sakamoto (72 tuổi) – Giám đốc Công ty CP Của Tôi, người kinh doanh chuỗi cửa hàng nổi tiếng Pháp Của Tôi, Italia Của Tôi…: “Tôi nghĩ mình chỉ học được một phần lời dạy của anh Inamori. Trong buổi trao đổi học thuật ở lớp Morikazu, học viên có một khoảng thời gian có thể đặt câu hỏi trực tiếp với thầy Inamori. “Hiện nay em đang tiếp quản công việc kinh doanh của cha, nhưng em đang gặp rắc rối vì xảy ra xung đột với em trai. Em nên làm như thế nào?”. Có rất nhiều câu hỏi về rắc rối của mọi người như vậy. Khi đó, tôi luôn thử tự tưởng tượng câu trả lời của thầy Inamori trong đầu nhưng hầu hết đều không chính xác. 10 câu chỉ có một câu đúng. Bởi vậy, mỗi lần tôi đều tự nhủ: “Thì ra phải có cách nghĩ như thế!”. Không phải tôi khiêm tốn mà tôi phải thú nhận mình chỉ học được một trong 10 phần quan niệm triết học của Inamori. Thầy Inamori đã làm được điều tuyệt vời là hồi sinh JAL, thầy sẽ còn có thể tiến xa hơn nữa, thành công hơn nữa. Bản thân tôi vẫn luôn nhận thức được rằng mình chưa có nhiều kinh nghiệm, mình chỉ đơn giản là một doanh nhân sẽ tiếp tục nỗ lực, luôn luôn nỗ lực cho tới lúc chết. Với tôi, tới từng này tuổi mà vẫn có một người thầy chỉ dẫn là một điều hạnh phúc”.

Ken Ohata – người thành lập và dẫn dắt Công ty Duks (chuyên buôn bán và trao đổi kính xe ô tô cho các đại lý xe và người tiêu dùng), “người hâm mộ điên cuồng” doanh nhân Inamori: “Đối với nhân viên, tôi luôn muốn mối quan hệ thân thiết như cha con. Tôi đối xử với nhân viên như con và nhân viên cũng coi tôi giống như cha của họ. Nếu chỉ là mối quan hệ đơn thuần giữa phía tuyển dụng và phía được tuyển dụng thì chúng ta không thể làm kinh doanh được. Thầy Inamori cũng từng nói: “Hãy kinh doanh với chủ nghĩa đại gia đình”. Liệu bạn có thể hy sinh bản thân và cố gắng hết sức vì nhân viên không? Nếu là những ông bố, bà mẹ, chắc chắn bạn sẽ nghĩ cho con cái trước tiên đúng không? Trường hợp này cũng giống như vậy!”.

Soushun Un – Chủ tịch Công ty Tư vấn Quản lý Inamori Kazuo (Bắc Kinh), người hâm nóng làn sóng Inamori tại Trung Quốc: “Tôi là người thích học hỏi. Tôi cũng từng học lịch sử thế giới, tìm hiểu những con người có tư tưởng ảnh hưởng đến thế giới, nhưng tôi không tìm thấy ai giống như thầy cả. Thầy Inamori vốn là một kỹ sư nhưng sau này, khi trở thành một doanh nhân, thầy được nhiều người biết đến. Thế nhưng với tôi, thầy chính là một nhà tư tưởng học, một triết gia theo đuổi những điều đúng đắn một cách triệt để. Tôi không phải tuýp người dễ dàng kính phục người khác. Nếu tôi không thể thật sự thấu hiểu bằng cả tâm hồn, dù có là người vĩ đại đến đâu, tôi cũng không tin. Thầy Inamori có là lãnh đạo của một công ty lớn đến đâu, tôi cũng không quan tâm, đơn giản là tôi bị cuốn hút bởi quan niệm triết học của thầy”.

Chương III: Rốt cuộc, doanh nhân là gì?

Từng tham dự Hội thảo Tài chính vùng Kansai do Matsushita Konosuke – nhà sáng lập Công ty điện tử tiêu dùng lớn nhất Nhật Bản Panasonic - làm diễn giả vào năm 1965, Inamori Kazuo đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Konosuke. 18 năm sau, ông mở lớp học Morikazu và trở thành người dẫn dắt, truyền cảm hứng cho những doanh nhân của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Có thể nói trong 18 năm đó, ông đã đối diện với bản ngã, tìm ra chân lý cho câu hỏi “Rốt cuộc, doanh nhân là gì?”.

“Khi em nghĩ rằng mình không thể cố gắng hơn nữa, đó mới là lúc công việc bắt đầu.”
Khi kể về những khó khăn cũng như sự quyết đoán, kiên định của bản thân trong suốt khoảng thời gian gian truân ấy, Inamori Kazuo đã miêu tả chi tiết đến mức học viên cảm giác như họ đang ở trong hành trình thời gian đó vậy. Nó chứng tỏ ông vô cùng nghiêm túc với việc kinh doanh.

Có thể nói, phong cách kinh doanh Inamori phát triển như sau: Trước tiên, doanh nhân phải đặt mục tiêu kinh doanh lớn nhất là mang lại hạnh phúc cả về vật chất và tinh thần cho nhân viên. Để thực hiện được mục tiêu đó, doanh nhân phải có khát vọng đưa doanh nghiệp mình đứng đầu khu vực, đứng đầu đất nước, sau cùng là đứng đầu thế giới. Và để theo đuổi khát vọng lớn, doanh nhân phải vứt bỏ cái tôi tư lợi, ngày ngày nỗ lực không thua kém bất cứ ai. Nói cách khác chính là nhân cách biết tiết chế và kiên nhẫn của doanh nhân đó. Khi coi nhân cách đó là trọng tâm của kinh doanh, bạn có thể dung hòa quản lý kế toán và quan niệm triết học.

Doanh nhân không phải là người thúc ép nhân viên bằng phương pháp huấn luyện khắc nghiệt, cũng chẳng phải treo mức thù lao cao ngất ngưởng trước mắt nhân viên. Doanh nhân chính là người châm lửa, người thắp lên ngọn lửa quyết tâm của cả tổ chức. Nhân tố khiến cho công ty phát triển hay tàn lụi chính là doanh nhân.

Dù cố gắng đến đâu, tuổi trẻ của Inamori vẫn luôn gặp những điều không như ý muốn. Những khó khăn, gian khổ đã rèn giũa cho trái tim, tâm hồn Inamori để ông trở thành một Inamori quyết đoán ngày nay. Nếu đang phải đối mặt với khó khăn, đó là cơ hội tuyệt vời để bạn rèn luyện lại bản ngã, bạn sẽ được trải nghiệm cảm giác liệu mình có thể gánh vác sứ mệnh của một doanh nhân không. Chỉ cần bạn có được trái tim với suy nghĩ tích cực tuyệt đối, tin tưởng vào con đường mình đã chọn và cố gắng hết mình là đủ. Người minh chứng cho câu nói này chính là Inamori Kazuo.

Trong lời dạy của nhà tư tưởng học Nakamura Tempu mà Inamori rất ngưỡng mộ, có một câu mà ông rất trân quý: “Doanh nhân rốt cuộc là gì?”. Câu trả lời của Inamori có thể cô đọng lại chỉ bằng một câu nói: “Thành công của kế hoạch nằm ở sự đồng tâm nhất chí, quật cường, bất khuất. Quyết tâm vì một mục tiêu duy nhất, suy nghĩ cho người khác. Tấm lòng cao cả, tâm hồn quật cường, tất cả hòa làm một”.

Những cột mốc trong cuộc đời của Inamori Kazuo

- Năm 1932: chào đời tại con phố Yakuchi, thành phố Kagoshima.
- 13 tuổi: đọc cuốn Chân tướng của sinh mệnh khi nằm trên giường bệnh chống lại bệnh viêm phổi. Căn nhà bị thiêu rụi vì trận chiến không kích.
- 19 tuổi: nhập học khoa Hóa học ứng dụng, ngành Công nghệ, ĐH Kagoshima.
- 23 tuổi: gia nhập Công ty sản xuất vật chất cách điện Shofu. Tham gia nghiên cứu vật liệu sứ cao cấp.
- 26 tuổi: xung đột với cấp trên, nghỉ việc.
- 27 tuổi: thành lập Công ty CP Ceramic Kyoto, giữ chức Giám đốc kỹ thuật.
- 29 tuổi: nhân dịp trao đổi với tập thể nhân viên trình độ tốt nghiệp cấp ba, xây dựng phương châm kinh doanh.
- 34 tuổi: giữ chức giám đốc.
- 39 tuổi: đưa Công ty lên vị trí thứ hai sàn giao dịch chứng khoán Osaka, lên sàn giao dịch chứng khoán Kyoto.
- 44 tuổi: đưa Công ty lên sàn chứng khoán của Mỹ.
- 50 tuổi: đổi tên Công ty thành Công ty CP Kyocera.
- 51 tuổi: thành lập lớp học Moriyu (nay là lớp học Morikazu) về kinh doanh dành cho doanh nhân trẻ.
- 52 tuổi: dùng tài sản riêng lập Quỹ Inamori, giữ chức Chủ tịch. Thành lập Công ty CP Kế hoạch DDI, nhậm chức Chủ tịch HĐQT.
- 54 tuổi: thành Chủ tịch HĐQT của Kyocera.
- 65 tuổi: rời chức Chủ tịch HĐQT của Kyocera và Công ty CP Kế hoạch DDI, nhậm chức Chủ tịch danh dự. Trở thành tăng ni Phật tử chùa Enpuku phái Rinzai.
- 68 tuổi: hợp nhất DDI, KDD, IDO thành KDDI. Nhậm chức Chủ tịch danh dự.
- 69 tuổi: nhậm chức Cố vấn cao cấp nhất của KDDI.
- 73 tuổi: thành lập Học viện Kỹ thuật Kinh doanh Inamori (nay là Học viện Inamori) tại trường ĐH Kagoshima.
- 78 tuổi: nhậm chức Chủ tịch HĐQT Hãng hàng không Nhật Bản (Japan Airlines)
- 80 tuổi: nhậm chức Chủ tịch danh dự Japan Airlines.
- 81 tuổi: từ chức vị trí Chủ tịch HĐQT Japan Airlines.


* Nguồn: Doanh Nhân Sài Gòn

Khi xuất hiện trên Quora – trang mạng chia sẻ kiến thức với những câu hỏi hấp dẫn và được trả lời bởi những người có hiểu biết sâu rộng, lời giải đáp cho câu hỏi “Kinh nghiệm đáng nhớ nhất của bạn khi làm việc cùng Steve Jobs là gì” của ông Guy Kawasaki đã thu hút rất nhiều người.

steve Jobs

Guy Kawasaki là một cựu kỹ sư công nghệ của Apple. Ông đã chia sẻ trên Quora một câu chuyện thú vị của mình khi làm việc cùng Steve Jobs:

"Một ngày nọ, Steve Jobs đột nhiên xuất hiện tại nơi làm việc của tôi cùng với một người đàn ông mà tôi chưa từng gặp bao giờ. Ông ấy không giới thiệu người đàn ông kia mà ngay lập tức hỏi tôi rằng: “Anh nghĩ gì về một công ty có tên Knoware?”.

Tôi đã trả lời Steve rằng sản phẩm của công ty đó rất tầm thường, nhàm chán và đơn điệu, không có gì để so sánh với sản phẩm chiến lược như Macintosh. Công ty này không phải là mối bận tâm đối với Apple.

Sau khi nghe một loạt lời phê phán của tôi, lúc bấy giờ Steve mới giới thiệu người đàn ông đứng bên cạnh: “Tôi xin giới thiệu với anh đây là Archie McGill, Giám đốc điều hành của Knoware”.

Tôi đã vượt qua được bài kiểm tra của Steve Jobs như thế. Nếu như hôm đó tôi chỉ nói những lời tốt đẹp về một phần mềm không có gì nổi bật, Steve chắc hẳn sẽ cho rằng tôi là người không có chính kiến và có thể sự nghiệp của tôi cũng kết thúc tại đó.

Sau nhiều năm làm việc tại Apple, tôi nhận ra làm việc cho Steve Jobs không dễ dàng gì. Ông ấy luôn đòi hỏi ở bạn sự xuất sắc và vượt trội dẫn đầu trong lĩnh vực của mình, hoặc là bạn sẽ bị sa thải. Tôi chưa từng được trải nghiệm điều này ở bất cứ công việc nào trước đây. Đó là một kinh nghiệm thú vị. Tôi thật sự phải cảm ơn Steve.

Kinh nghiệm này đã dạy tôi rằng, bạn nên luôn luôn nói sự thật mà không cần lo ngại hậu quả bởi 3 lý do sau đây:

1. Thứ nhất: Nói ra sự thật là một bài test kiểm tra tính cách và trí thông minh của bạn. Bạn cần có sức mạnh để nói ra sự thật và trí thông minh để biết sự thật đó là gì.

2. Thứ hai: Tất cả mọi người đều mong muốn được nghe sự thật. Nếu bạn nói sản phẩm này tốt theo hướng tích cực chỉ để an ủi họ, thì họ sẽ không biết phải cải thiện điều gì.

3. Thứ ba: Chỉ có một sự thật duy nhất, vì vậy lựa chọn trung thực sẽ dễ dàng hơn là dối trá. Nếu bạn không trung thực, bạn sẽ luôn phải kiểm soát và lo sợ với những gì mình nói.

Nguồn: Trí Thức Trẻ

“Chúng ta đang hội nhập sâu với thế giới thông qua một loạt hiệp định thương mại tự do, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ phải tạm biệt thời kỳ có thể “sử dụng chùa” tài sản trí tuệ của người khác".

Đó là nhận định của ôngĐỗ Hòa, chuyên gia tư vấn chiến lược về hệ thống quản lý doanh nghiệp - nhận định về viễn cảnh khi Việt Nam tham gia TPP. Ông Hòa cho biết thêm: "Ở châu Âu, người ta cho rằng ai kiểm soát được nhiều tài sản trí tuệ thì người đó làm chủ được tương lai. Trong khi đó, hiếm có doanh nghiệp Việt Nam nào đầu tư vào tài sản trí tuệ. Tôi nghĩ, nhận thức này rồi cũng sẽ phải thay đổi".

Theo ông, nhận thức về tài sản trí tuệ ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã có sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước hay chưa?

- Tôi nghĩ thay đổi là có, nhưng chưa nhiều. Cách đây 4-5 năm, khi tôi phát biểu ở “Hội nghị Hàng Việt Nam chất lượng cao” thì hầu như không ai nghe. Đến nay, tôi đã thấy về mặt nhận thức, người ta nghe và chú ý hơn tới tài sản trí tuệ.

Chúng ta đã khuấy lên được một chút về nghiên cứu phát triển hay innovation (đổi mới sáng tạo - PV).

DH1

Ông Đỗ Hòa - cựu Giám đốc chiến lược và marketing khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Tập đoàn Shell. Ảnh: Thanh Thương

- Tuy nhiên, người ta vẫn chưa chú ý đầu tư vào các quyền sở hữu trí tuệ như sáng chế. Sắp tới, dưới áp lực cạnh tranh, hội nhập, các doanh nghiệp buộc phải trả tiền khi dùng chất xám và tài sản trí tuệ của người khác. Đến lúc đó, doanh nghiệp sẽ phải đầu tư vào tài sản trí tuệ nhiều hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mới chủ yếu quan tâm tới thương hiệu và tiến hành đầu tư khá nhiều vào xây dựng thương hiệu. Nhưng tài sản vô hình của doanh nghiệp không chỉ có thương hiệu.

Vậy có tồn tại các công cụ để quản trị và phát triển thương hiệu hay tài sản vô hình của doanh nghiệp không, thưa ông?

- Có chứ! Nước ngoài đã có rồi, nó gần như tương đối chuẩn hóa, tức là có các bộ công cụ quản trị cho những mô hình doanh nghiệp khác nhau. Ở Việt Nam, tôi chưa thấy doanh nghiệp nào đầu tư bài bản về quản trị thương hiệu. Đa số chỉ dừng ở nhận thức được và đi thuê làm nhận diện thương hiệu, rồi chạy các chương trình truyền thông. Còn tổ chức bộ máy, cơ chế giống như là những công cụ, tài liệu sử dụng trong nội bộ về mặt quản trị thương hiệu thì tôi nghĩ là rất hiếm.

- Bởi vậy mới có chuyện những doanh nghiệp sở hữu thương hiệu tốt cả chục năm nhưng đùng một cái, chỉ vì một scandal mà giá trị thương hiệu suy giảm mạnh. Tân Hiệp Phát là một ví dụ điển hình. Tôi nghĩ, nếu họ có một bộ quản trị thương hiệu và công việc này được tổ chức, quản lý bài bản hơn thì họ đã không để xảy ra những chuyện như vừa rồi.

Nhiều ý kiến cho rằng, đầu tư cho tài sản vô hình tốn nhiều chi phí, doanh nghiệp không đủ tiền hay mỗi doanh nghiệp có những đặc thù riêng, không thể đem công cụ bên ngoài áp dụng vào. Ông bình luận thế nào về các ý kiến này?

- Thứ nhất, không có tiền là câu giải thích rất phổ biến. Tuy nhiên, theo cách suy nghĩ, tiếp cận này thì ngay cả các công ty nước ngoài cũng có thể nói là không có tiền. Đúng là làm bài bản, triển khai tổng thể bộ công cụ ấy cùng một lúc sẽ mất rất nhiều triệu USD và hầu như không ai có thể làm được. Nhưng các doanh nghiệp nước ngoài đã làm được vì vấn đề này có trong nhận thức. Họ tích lũy, xây dựng một hệ thống quản trị thương hiệu trong hiều năm. Người ta làm dần dần mới có được như hôm nay chứ không ai có thể đùng một lúc triển khai là đạt được ngay.

Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp ở Việt Nam nếu tính toán thì họ có thể bắt đầu làm từ những thứ đơn giản, không tốn kém bao nhiêu. Tôi cho là nhận thức tốn kém bắt nguồn từ việc không hiểu vấn đề của các doanh nghiệp Việt Nam.

- Vấn đề thứ hai, tôi cho là bất kỳ một công cụ, sáng chế khoa học nào khi triển khai vào một điều kiện cụ thể thì người ta luôn luôn phải có những sự điều chỉnh để phù hợp với yếu tố văn hóa, pháp lý ở nơi ấy.

Khi TPP có hiệu lực, cạnh tranh gay gắt hơn, các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ bị xử lý nặng. Có ý kiến nhận định doanh nghiệp sẽ đổ vỡ hàng loạt, ông bình luận thế nào về cách nhìn này?

DH2

Ông Đỗ Hòa trong một lần chia sẻ kiến thức cho Group Quản Lý Doanh Nghiệp - Ảnh: Group QLDN

- Tôi không hình dung ra một sự đổ vỡ nhanh của các doanh nghiệp, bởi chắc chắn Nhà nước sẽ không để xảy ra sự đổ vỡ nhanh chóng đó. Thế nhưng tôi cũng hình dung được sẽ có rất nhiều doanh nghiệp vốn lâu nay sử dụng tài sản trí tuệ của người khác mà không phải trả tiền thì đến lúc họ sẽ không sử dụng được nữa. Còn nếu doanh nghiệp chỉ đến khi muốn có tiến bộ khoa học, công nghệ trong phát triển kinh doanh họ mới đi đầu tư thì sẽ đẩy chi phí lên.

Lợi thế cạnh tranh do đó cũng không còn nhiều. Như vậy, rất nhiều doanh nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động. Đổi mới sáng tạo được coi là yếu tố then chốt để phát triển tài sản trí tuệ, vậy ông đánh giá về năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp Việt Nam hiện ra sao?

- Nhiều người nói về đổi mới sáng tạo. Nhưng nếu chỉ nói suông thì đổi mới sáng tạo không thể xảy ra. Để innovation phát triển thì nó phải có sự thay đổi về văn hóa - văn hóa dám chấp nhận, dám nghe những điều khác với những điều thông thường, dám chấp nhận những ý kiến khác từ cấp dưới. Đó còn là văn hóa dám chấp nhận thử những cái mới, chấp nhận có thể thất bại với một chi phí nào đó để bù lại, sẽ có những kết quả đột phá nếu thành công.

- Tôi biết khẩu vị về chấp nhận rủi ro của nhiều lãnh đạo các công ty Việt Nam. Có người rất mạnh dạn chấp nhận rủi ro, trái lại có những người cực kỳ bảo thủ. Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro mới chỉ là một điều kiện cho đổi mới sáng tạo xảy ra. Ngoài ra, còn phải có cơ chế thúc đẩy nữa. Trong khi đó, một số lãnh đạo khác thì có cơ chế thúc đẩy và khuyến khích đổi mới sáng tạo nhưng cảm nhận về rủi ro, về đổi mới lại chưa đủ.

DH3

Điều mà tôi cho là vô cùng quan trọng, đó là vai trò của Nhà nước làm sao tạo ra môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo. Để có được một sáng chế nào đó có giá trị đòi hỏi phải đầu tư nhiều tiền bạc và công sức vào kiến thức, nghiên cứu, thử nghiệm thực tế, làm đi làm lại nhiều lần. Nhưng nếu sáng chế đó đem ra ứng dụng và vừa đi đăng ký xong đã bị người khác copy ngay thì sẽ không có ai bỏ công sức đi làm đổi mới sáng tạo cả. Một môi trường tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mới có thể khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Bài viết thuộc ấn phẩm Sở hữu trí tuệ của báo Khoa học và Phát triển.

Trước khi đạt được thành công rực rỡ với khối tài sản gần 65 tỉ USD và “đứa con cưng" kết nối khoảng 1,8 tỉ người trên thế giới, Mark Zuckerberg chưa bao giờ dám mơ tới một Facebook phát triển như ngày hôm nay.

Tuy nhiên, với phương châm sống nổi tiếng của mình: “hành động nhanh, nghĩ đột phá", vị CEO 33 tuổi đã giúp Facebook tăng trưởng đến chóng mặt và trở thành mạng xã hội phổ biến nhất thế giới hiện nay thông qua những chiến lược không giống ai của mình.

252587568 0 4 20160221211610 3 0 2341824224 kq3F 572x381LaVanguardia Web

Dưới đây là 5 “bí quyết vàng" của Mark Zuckerberg.

1. Có niềm tin vững chắc

Khi mới tích hợp News Feed, tính năng giúp người dùng theo dõi trạng thái của bạn bè, Facebook nhận được nhiều lời chê trách hơn là khen ngợi. Mark Zuckerberg nhớ lại: “Khi ấy, có rất nhiều người lên tiếng bày tỏ e ngại về News Feed”.

Trong một bài viết kỉ niệm 10 năm của tính năng này, Ruchi Sanghvi, người chịu trách nhiệm giám sát News Feed, vẫn còn nhớ như in những lời chỉ trích và thái độ cực đoan đến từ người dùng trong những ngày mới kích hoạt nó.

Cô nói: “Chúng tôi ra mắt News Feed trong đêm khuya. Lúc đó, cả đội đang bật nắp champagne ăn mừng và chẳng mảy may suy nghĩ chuyện gì sẽ đến sáng hôm sau. Khi mặt trời vừa ló dạng, hết thảy thức giấc với hàng trăm ngàn người dùng phẫn nộ, tựa hồ như muốn ‘ăn tươi nuốt sống’ cả đội kĩ thuật. Các nhóm như ‘Hội những người ghét News Feed’, ‘Ruchi là đồ quỷ sứ’ v.v. mọc lên như nấm chỉ sau một đêm. Cánh nhà báo và cả sinh viên thậm chí đã cắm trại ‘chực sẵn’ xung quanh công ty từ lúc nào. Chúng tôi đã phải dùng đến cửa sau mới có thể an toàn rời trụ sở”.

Tuy vậy, Mark Zuckerberg và cả đội đều tin rằng họ đã đi đúng hướng. Vị CEO này nói: “Mấu chốt nằm ở niềm tin của bạn, rốt cuộc thì bạn tin vào sáng kiến đó bao nhiêu. Cả đội chứ không riêng gì tôi, ai nấy đều tin xác quyết vào News Feed.”

Thực tế đã chứng minh cho niềm tin đúng đắn của Mark và các đồng sự. Sau khi kích hoạt tính năng mới, số lượng người tiếp cận Facebook đã tăng một cách chóng mặt và cho đến tận bây giờ, News Feed vẫn đứng sừng sững như một cột trụ vững vàng cho mạng xã hội lớn nhất hành tinh này.

2. Không ngừng thử nghiệm

Facebook không đoán bừa mà thử nghiệm liên tục, tất cả vì một mục tiêu: Mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng. Một ngày, mạng xã hội này có thể chạy thử đến 10.000 phiên bản khác nhau để kiểm tra mức độ kết nối và chia sẻ của người dùng cũng như ước tính lợi tức mà nó thu về.

Mark Zuckerberg nói: “Việc cung cấp các công cụ cần thiết để lấy dữ liệu mà không phải thông qua những ý kiến, thủ tục quản trị nhiêu khê đến từ cấp trên trước khi kiểm tra một thứ gì đó sẽ giúp nhân viên tự do hơn cũng như khiến họ nhanh nhạy hơn trong hành động”.

Chính sự trơn tru, nhịp nhàng đó đã giúp cho các nhân viên ở Facebook tiến bước mau chóng, từ đó thu về nhiều phản hồi khách hàng hơn. Vị CEO 33 tuổi này nói: “Ở công ty của tôi và các đồng sự có phương châm, ‘hoàn thành’ tốt hơn ‘hoàn hảo’. Thu về phản hồi từ cộng đồng để từ đó quan sát và nhận ra hướng đi đúng đắn tốt hơn nhiều lần so với việc ra sức ‘đánh bóng’ thứ gì đó đến mức tối đa”.

3. Tạo nền tảng để đột phá

Tưởng chừng việc chuyển đổi từ nền tảng website sang ứng dụng trên di động sẽ là bước đi đột phá của Facebook, nhưng mọi việc lại không hề xảy ra như vậy. Chính sự bấp bênh này đã mang lại bài học to lớn cho công ty trong việc tạo nền tảng và chuyển đổi sang lĩnh vực khác.

Vị tỉ phú tiếp lời: “Chúng tôi gặp trở ngại ngay lúc khởi động. Ý tưởng ban đầu là phát triển một ứng dụng di động giống với những gì đã có trên màn hình vi tính, vốn là thứ quen thuộc với cả đội”.

Tuy nhiên, công việc không được xuôi chèo mát mái cho lắm và cuối cùng tất cả đã phải cay đắng đi đến quyết định: “Có vẻ điên rồ nhưng chúng tôi đã không thêm bất cứ tính năng mới nào trong vòng 2 năm. Mục tiêu trước mắt và quan trọng nhất là phải xây dựng một ứng dụng điện thoại đơn giản”.

Để giúp cả đội chuyển dịch một cách trơn tru, Mark Zuckerberg đã trực tiếp tập huấn và thiết lập các quy định gắt gao đối với những cá nhân đề xuất ý tưởng mới. Anh nhớ lại: “Cứ mỗi lần một nhân viên nào đó đến gặp tôi để nghe đánh giá sản phẩm thì bắt buộc phải cho tôi xem phiên bản điện thoại của Facebook đầu tiên, nếu không thì cầm chắc chiếc vé ‘bị đá đít’ ra khỏi văn phòng”.

Rõ ràng, việc xây dựng một nền tảng tốt và có mục tiêu mạch lạc sẽ giúp nhân viên luôn tập trung trong khi lên kế hoạch cho bước chuyển dịch đột phá.

4. Xây dựng đội ngũ gắn kết

Phần lớn thành viên ban quản trị của Facebook đều nắm giữ cương vị hiện tại thông qua quá trình làm việc và phấn đấu dài lâu chứ không phải do được giao phó ngay từ lúc đầu. Đơn cử như một phụ nữ ban đầu là trợ lý điều hành, bây giờ đang nắm vai trò quản lí “Nhóm Phát triển". Người khác khi trước là kĩ sư, giờ phụ trách “Nhóm Sản phẩm” và cả “Phòng Nhân sự” nữa.

Cách thiết lập đội ngũ như thế này có cái hay riêng của nó, Mark Zuckerberg cho biết: “Khi bạn lập đội quản trị với các thành viên lâu năm tại công ty, bạn sẽ nắm trong tay những con người có sự tin cậy và gắn bó nhất định do đã cùng đồng cam cộng khổ và ý thức được làm cách nào để hoàn thành mục tiêu”.

Mark nói thêm: “Nó ‘bật đèn xanh' cho mọi nhân viên trong công ty, cho họ biết rằng họ cũng có thể đạt được vị trí đó trong tương lai nếu làm tốt chức phận và vượt trội hơn người khác”.

5. Thuê người giỏi hơn mình

Xoay quanh vấn đề nhân sự, CEO của Facebook trả lời: “Khác biệt cơ bản giữa ‘công ty tốt’ và ‘công ty tuyệt vời’ nằm ở những nhân viên được tuyển dụng. Những công ty thành công vang dội luôn có những người sáng lập dám đặt bản thân xung quanh kẻ giỏi hơn mình”.

Quy tắc vàng được vị CEO này đưa ra: “Chớ thuê người mà ngay cả bản thân bạn cũng không muốn làm việc cho. Khi tuyển nhân viên, hãy hình dung tình huống ngược lại: Trong vị trí người đi xin việc thì bạn có thấy thoải mái nếu phải làm việc cho người này không? Nếu câu trả lời là không, thì bạn đang ‘cố đấm ăn xôi’ và thực chất bạn có thể làm được tốt hơn như vậy”.

Cách tuyển nhân viên như thế đảm bảo cho con đường phát triển của doanh nghiệp. Mark thú nhận: “Có những mặt mà Sheryl Sandberg mạnh hơn tôi rất nhiều và chính điều ấy lại làm cho tôi trở nên tốt hơn, đồng thời khiến Facebook tốt hơn. Tôi chẳng lo lắng mà hơn cả là trân trọng điều ấy”.

LÊ DUY(Theo Entrepreneur)

Triệu phú tự thân Grant Cardone luôn tự hào và yêu thích công việc. Ông cho rằng, thái độ tích cực quan trọng hơn chất lượng sản phẩm và triết lý kinh doanh là “một công ty chỉ thành công thông qua buôn bán”. Thế nhưng, niềm đam mê đầu tiên của ông lại là giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Grant Cardone là triệu phú tự thân nổi tiếng của Mỹ, đồng thời là tác giả của 4 cuốn sách kinh doanh nằm trong top bán chạy của New York Times và cũng là chuyên gia tư vấn cho nhiều công ty nằm trong danh sách Fortune 500 (các công ty hàng đầu tại Mỹ).

Người ta biết tới ông với danh hiệu diễn giả quốc tế, làm say đắm khán giả với phong cách thuyết trình truyền cảm, hài hước xoay quanh các chủ đề liên quan đến bán hàng, tiếp thị, xây dựng thương hiệu, kinh doanh và vạch cho mọi người các yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế toàn cầu.

Grant Cardone là người năng động, tham vọng cao. Triệu phú có khởi đầu không mấy tốt đẹp nhưng bằng sự cố gắng, nỗ lực, hiện ông là người sáng lập và chủ sở hữu của 3 công ty hàng triệu đô la. Ông phát triển nhiều chương trình bán hàng ảnh hưởng đến hàng nghìn người và các tổ chức kinh doanh. Triết lý kinh doanh của Grant là “một công ty chỉ thành công thông qua buôn bán”.

Hiện nay, hệ thống bán hàng của triệu phú Grant Cardone được hàng ngàn công ty tại Mỹ và Canada sử dụng, áp dụng cho tất cả các loại hình và giá cả sản phẩm. Một số người cho rằng: “Cardone là tác giả của những điều kinh doanh mới mẻ nhất trong vòng 50 năm qua, ông thích nghi nhanh chóng với thay đổi trên thị trường”.

Tr2

Triệu phú Grant Cardone.

QUAN ĐIỂM KINH DOANH

“Ông vua bán hàng” Grant Cardone cho rằng, thái độ tích cực quan trọng hơn chất lượng sản phẩm và khẳng định, khách hàng sẽ chấp nhận trả tiền để có thái độ tích cực, dễ chịu hơn là mất tiền cho một sản phẩm tốt nhưng lại nhận về cảm giác khó chịu. Chất lượng sản phẩm đi kèm với thái độ tuyệt vời là yếu tố hàng đầu của kinh doanh thành công.

Hãy tưởng tượng khi gõ một cánh cửa và gặp ai đó đi ra cầm đĩa kẹo với vẻ mặt khó chịu. Chắc chắn bạn sẽ lưỡng lự nhận chúng. Nhưng nếu người đó đi ra với một nụ cười thân thiện, bạn sẽ lập tức cảm thấy thoải mái và sẵn sàng thực hiện trao đổi. Bạn cũng nên quan sát cách mọi người tiêu tiền. Một người sẽ dành phần nhỏ thu nhập cho các nhu cầu thiết yếu nhưng lại dốc toàn bộ tài sản để giải trí. Tại sao? Vì muốn có được cảm giác thư thái.

Thật dễ dàng nói không với một sản phẩm hay công ty nhưng thật khó từ chối thái độ tích cực. Vì vậy, Grant Cardone gợi ý một số cách giúp mọi người nắm bắt và giữ gìn cuộc sống lạc quan, hạnh phúc như tránh báo chí, truyền hình, đài phát thanh, tránh thuốc lá, rượu bia, hạn chế gặp bác sĩ và bệnh viện.

Ngoài ra ông cũng đề ra một số biện pháp nhằm đẩy lùi tính tiêu cực như viết giấy nhắc nhở dán quanh nhà hay văn phòng, tránh nói chuyện không vui, không suy nghĩ tiêu cực…

Grant tự hào và yêu thích công việc của bản thân. Ông cho rằng, công việc là một phần quan trọng của nền văn minh.

PHONG CÁCH SỐNG

Đừng để bị đánh lừa bởi vẻ ngoài khiêm tốn với cách ăn mặc giản dị của Grant Cardone. Không chỉ là doanh nhân tài ba, triệu phú còn là quý ông có lối sống thoải mái, cá tính với những ngôi nhà lộng lẫy. Ông không chỉ tự biết cách mở đường kiếm "vàng" mà còn dạy người khác đi đến thành công.

Trong bài phỏng vấn với báo chí, Grant chia sẻ, ông là người yêu động vật và sở thích mỗi khi về nhà là đùa giỡn với hai chú chó Đan Mạch. Ngoài ra, ông cũng mong muốn sống ở một nông trang với núi rừng và đất đai rộng lớn, với ngựa và khung cảnh đẹp.

Nói về quy tắc sống, ông hào hứng tiết lộ, muốn làm những điều mới, trải nghiệm những kinh nghiệm mới. Hơn nữa, ông không bao giờ tự mãn hoặc coi thường cuộc sống. Grant tâm sự, nhiều khi đứng trên sân khấu, chỉ dạy mọi người cũng là cơ hội để ông học được nhiều thứ mới.

Cũng trong bài phỏng vấn, khi được hỏi về điều thích thú nhất trong cuộc sống, câu trả lời của Grant là vượt qua thử thách. Niềm đam mê đầu tiên của ông là giữ gìn hạnh phúc gia đình. Grant đã lập gia đình và chìm đắm trong tình yêu với vợ là nữ diễn viên Elena Lyons. Trong tình yêu, ông kiên trì theo đuổi vợ suốt thời gian dài mặc dù đối phương không để ý. Càng như vậy, ông càng có động lực theo đuổi đến cùng.

Grant Cardone là một người cực kỳ lãng mạn. Ít ai biết, vào bữa tiệc sinh nhật lần thứ 30 của vợ, ông mua và trồng 30 bông hồng trắng tặng bà.

Ngoài ra, niềm đam mê thứ hai là cuộc sống và khám phá cuộc đời. Ông khẳng định, không có bất kỳ bí ẩn nào mà không thể hiểu được. Mọi thứ đều có thể khám phá. Ông cũng có một ước mơ khá tham vọng– muốn sở hữu toàn bộ thời gian. Ông luôn khao khát bước ra khỏi bóng tối và chạm tới 6,7 tỷ người. Nhà kinh doanh muốn tất cả mọi người trên hành tinh biết tới ông và những việc ông làm.

Điều cuối cùng, cũng là điều nhiều người tò mò về các doanh nhân thành đạt, đó là lúc yếu mềm trong cuộc sống. Đối với Grant, ông thẳng thắn, lần cuối cùng khóc là khi xem phim Armageddon. “Tôi xem bộ phim này 7 lần và thường khóc mỗi khi Bruce Willis qua đời. Lần nào cũng vậy”.

Theo Trí thức trẻ/Tổng hợp

Suze Orman cho rằng, tất cả con người đều muốn thoát khỏi nợ nần, tăng thu nhập, mua nhà và nghỉ hưu sớm. Nhưng khi đã kiếm đủ tiền để biến những điều mong muốn trên thành hiện thực, chúng ta lại không biết phải làm gì với số tiền đó.

Suze Orman ART

Suze Orman là một MC kiêm nhà tư vấn nổi tiếng của kênh truyền hình CNBC. Bà được mệnh danh là vị phù thủy có uy tín nhất trong giới tài chính nước Mỹ với khả năng giải quyết những khó khăn về ngân sách xuất sắc và tác phong làm việc rất chuyên nghiệp theo từng giai đoạn: hỏi chi tiết, động viên và phân tích tâm lý, đưa ra tư vấn tối ưu nhất. Trong một hội nghị gần đây tại Miami, bà đã đưa ra lời khuyên bổ ích cho những ai muốn sống một cuộc sống thoải mái về tài chính.

Theo Suze, con người thường đặt cho mình những mục tiêu về tài chính như mua nhà, trả hết nợ và nghỉ hưu sớm, nhưng khi đã kiếm đủ tiền, họ không biết phải làm gì tiếp theo. Điều mà bà quan ngại đó là mọi người chỉ tập trung vào việc kiếm tiền mà không chú trọng đến quản lý tài chính và kế hoạch chi tiêu.

Vì tiền bạc và thị trường có bản chất dễ thay đổi nên Suze Orman đã không ngừng khuyên người dân: hạn chế đầu tư, chú trọng tới an toàn, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động như ngày nay. Bà cho rằng, bạn nên cảnh giác với những người tư vấn tài chính và lời kêu gọi đầu tư vì những người này có thể sẽ đưa ra cho bạn lời mời nghe có vẻ hấp dẫn nhưng thực chất không hề sinh lợi nhuận cho bạn, thậm chí là lỗ vốn.

Ngay cả khi đủ tỉnh táo để tránh bị lừa đảo, bạn vẫn có thể lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính vì chưa thanh toán thẻ tín dụng và các khoản nợ sinh viên. Điều quan trọng bạn cần làm lúc này là không nên dồn tiền vào các dự án kinh doanh mà mình không chắc chắn, thay vào đó, hãy thanh toán hết các khoản nợ trước khi tiền lãi tăng lên một con số khổng lồ.

Suze cũng nhấn mạnh, để đạt được tất cả các mục tiêu tài chính, ngoài việc kiếm tiền, bạn cần tìm hiểu thật kỹ trước khi chi tiền. Ví dụ, khi mua nhà, hãy tham khảo mức giá ở nhiều nơi khác nhau và hỏi kinh nghiệm của những người quen từng mua nhà để không bị mua nhà với mức giá trên trời.

Cuối cùng, Suze Orman bày tỏ quan niệm của mình về tiền bạc. Theo bà, tiền bạc không phải là tất cả, con người mới là nhân tố quan trọng trước nhất. Orman nhấn mạnh: "Nếu bạn muốn một cuộc sống giàu có, bạn phải nắm giữ quyền làm chủ đối với sự nghiệp, tiền tài và cuộc sống cá nhân của mình”.

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009.

3903953 orig

(John Maynard Keynes - một nhà kinh tế học người Anh)

John Maynard Keynes (sinh năm 1883) là một nhà kinh tế học người Anh. Ông nổi tiếng với học thuyết kinh tế Keynes – một học thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới kinh tế học và chính trị hiện đại.

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009. Bên cạnh đó, Keynes cũng là "cha đẻ" của những hiệp định thương mại thời hậu chiến Bretton Woods.

Tuy vậy, những học thuyết kinh tế của John Keynes rất khó để có thể tóm tắt trong vài từ. Trong các học thuyết của mình, ông quan tâm đến sự can thiệp của chính phủ đối với kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra.

Dưới đây là 5 bài học từ những học thuyết kinh tế của Keynes có thể hữu ích đối với các nhà đầu tư.

Chi tiêu Chính phủ có thể tác động đến tổng thể sản xuất trong ngắn hạn

Keynes thường đề cập đến các biện pháp kích thích của chính phủ bao gồm tăng mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ (chấp nhận thâm hụt ngân sách) để chống lại thất nghiệp không tự nguyện. Ông cũng là nhà kinh tế học đầu tiên xuất bản rộng rãi tài liệu tiếng Anh về yếu tố tổng cung, tổng cầu trong nền kinh tế.

Quan điểm này của ông đã được chứng minh là đúng, ít nhất trong ngắn hạn. Chi tiêu và các dự án của Chính phủ có thể tạm thời thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tương đương với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, chưa thể chứng minh được mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ với tăng trưởng năng suất hoặc thu nhập bình quân đầu người.

Giá cả không thể điều chỉnh một cách công bằng

Trên thị trường lao động, tiền lương chính là giá cả. Mô hình “tiền lương cứng nhắc” (sticky wage) là một phần không thể thiếu trong kho từ vựng về kinh tế của Keynes. Ông cho rằng việc giảm tiền lương không giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp bởi không có lý do gì để người lao động chấp nhận bị cắt giảm tiền lương hoặc ông chủ đề nghị giảm lương.

Nói cách khác, thị trường không phải lúc nào cũng tuân thủ rõ ràng quy tắc cân bằng tổng thể. Ông cũng lập luận rằng thị trường lao động không giống với các thị trường khác. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý rằng mọi loại giá cả có thể từ từ điều chỉnh chậm lại dưới các hoàn cảnh bất lợi.

Kinh tế và chính trị luôn có mối liên hệ chặt chẽ

John Keynes là một người phụng sự suốt đời cho cộng đồng và các học thuyết kinh tế của ông luôn có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, gây ảnh hưởng lớn đến chính sách điều hành kinh tế của các chính phủ. Ông hiểu rằng một khi quan điểm được chấp nhận bởi các viện hàn lâm, các chính trị gia sẽ dễ dàng góp phần thúc đẩy chính sách kinh tế hơn.

Keynes dùng kinh tế học như một vũ khí cho các cuộc tranh luận công khai. Ông ủng hộ mạnh mẽ các chương trình việc làm của Đảng Lao Động Anh và phản đối quan điểm lấy vàng làm tiêu chuẩn của nước Anh thời kỳ hậu thế chiến thứ nhất. Ông cho rằng các nhà cầm quyền có thể thực thi quan điểm từ học thuyết kinh tế của mình vào điều chỉnh chính sách.

Nền kinh tế vẫn có thể vận hành dù không có đủ việc làm trong một khoảng thời gian

Một trong những quan điểm mang tính đột phá của Keynes là cho rằng nền kinh tế có thể có nhiều mức độ thất nghiệp khác nhau. Đây là nhận định trái ngược với quan điểm của những nhà kinh tế học cổ điển như David Ricardo và Jean-Baptiste Say, những người nói rằng nếu thị trường lao động dư thừa việc làm thì sẽ tự điều chỉnh. Nhưng Keynes không nghĩ như vậy.

Cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933 đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ của Keynes về kinh tế học. Trước đó, các nhà kinh tế cho rằng, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiền công sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi.

Nhưng Keynes lại quan sát cuộc đại khủng hoảng và nhận ra rằng tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sản xuất mãi không hồi phục nổi. Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không vận hành hoàn hảo như những gì các nhà kinh tế cổ điển vẫn nghĩ. Và do đó, dù không có đủ việc làm thì nền kinh tế vẫn có thể vận hành trong một khoảng thời gian.

Ngày nay vẫn có một số nhà kinh tế học tranh cãi về quan điểm của ông, nhưng là về cơ chế vận hành của thị trường lao động. Một số cho rằng thất nghiệp là do dư thừa tiền tiết kiệm và thiếu thanh khoản, trong khi một số khác quan niệm các chính sách sai lầm khiến thị trường lao động mất cân bằng. Nhưng họ đều cho rằng trạng thái toàn dụng lao động không phải là một sự đảm bảo.

Lạm phát là quỷ dữ nhưng nó có thể thúc đẩy hoạt động công nghiệp

Trong bản thảo năm 1923 mang tên “A Tract on Monetary Reform”, Keynes đã gọi lạm phát là một loại quỷ dữ cần phải xa lánh. Đây cũng là quan điểm khác biệt lớn nhất giữa Keynes và các thế hệ nhà kinh tế học đi sau ông. Hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng lạm phát là vấn đề nhỏ và có một chút lạm phát sẽ giúp thúc đẩy hoạt động công nghiệp; Keynes nói không với lạm phát và còn cho rằng lạm phát giúp các nhà đầu tư làm giàu trên chi phí của người nghèo.

Giống như nhiều vấn đề khác, Keynes có những quan điểm mâu thuẫn nhau về lạm phát và chính sách tiền tệ. Nhưng ông cho rằng giá cả nên duy trì ổn định bởi lạm phát có thể dẫn đến tình trạng dư thừa công suất và ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Sau này nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Áo cũng nhận định những tác động vào nguồn cung tiền chính là nguyên nhân gây nên sự phập phù trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế với những giai đoạn xì hơi và khủng hoảng theo sau giai đoạn bùng nổ.

Hà My (Trí thức trẻ)