Suze Orman cho rằng, tất cả con người đều muốn thoát khỏi nợ nần, tăng thu nhập, mua nhà và nghỉ hưu sớm. Nhưng khi đã kiếm đủ tiền để biến những điều mong muốn trên thành hiện thực, chúng ta lại không biết phải làm gì với số tiền đó.

Suze Orman ART

Suze Orman là một MC kiêm nhà tư vấn nổi tiếng của kênh truyền hình CNBC. Bà được mệnh danh là vị phù thủy có uy tín nhất trong giới tài chính nước Mỹ với khả năng giải quyết những khó khăn về ngân sách xuất sắc và tác phong làm việc rất chuyên nghiệp theo từng giai đoạn: hỏi chi tiết, động viên và phân tích tâm lý, đưa ra tư vấn tối ưu nhất. Trong một hội nghị gần đây tại Miami, bà đã đưa ra lời khuyên bổ ích cho những ai muốn sống một cuộc sống thoải mái về tài chính.

Theo Suze, con người thường đặt cho mình những mục tiêu về tài chính như mua nhà, trả hết nợ và nghỉ hưu sớm, nhưng khi đã kiếm đủ tiền, họ không biết phải làm gì tiếp theo. Điều mà bà quan ngại đó là mọi người chỉ tập trung vào việc kiếm tiền mà không chú trọng đến quản lý tài chính và kế hoạch chi tiêu.

Vì tiền bạc và thị trường có bản chất dễ thay đổi nên Suze Orman đã không ngừng khuyên người dân: hạn chế đầu tư, chú trọng tới an toàn, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động như ngày nay. Bà cho rằng, bạn nên cảnh giác với những người tư vấn tài chính và lời kêu gọi đầu tư vì những người này có thể sẽ đưa ra cho bạn lời mời nghe có vẻ hấp dẫn nhưng thực chất không hề sinh lợi nhuận cho bạn, thậm chí là lỗ vốn.

Ngay cả khi đủ tỉnh táo để tránh bị lừa đảo, bạn vẫn có thể lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính vì chưa thanh toán thẻ tín dụng và các khoản nợ sinh viên. Điều quan trọng bạn cần làm lúc này là không nên dồn tiền vào các dự án kinh doanh mà mình không chắc chắn, thay vào đó, hãy thanh toán hết các khoản nợ trước khi tiền lãi tăng lên một con số khổng lồ.

Suze cũng nhấn mạnh, để đạt được tất cả các mục tiêu tài chính, ngoài việc kiếm tiền, bạn cần tìm hiểu thật kỹ trước khi chi tiền. Ví dụ, khi mua nhà, hãy tham khảo mức giá ở nhiều nơi khác nhau và hỏi kinh nghiệm của những người quen từng mua nhà để không bị mua nhà với mức giá trên trời.

Cuối cùng, Suze Orman bày tỏ quan niệm của mình về tiền bạc. Theo bà, tiền bạc không phải là tất cả, con người mới là nhân tố quan trọng trước nhất. Orman nhấn mạnh: "Nếu bạn muốn một cuộc sống giàu có, bạn phải nắm giữ quyền làm chủ đối với sự nghiệp, tiền tài và cuộc sống cá nhân của mình”.

Khi xuất hiện trên Quora – trang mạng chia sẻ kiến thức với những câu hỏi hấp dẫn và được trả lời bởi những người có hiểu biết sâu rộng, lời giải đáp cho câu hỏi “Kinh nghiệm đáng nhớ nhất của bạn khi làm việc cùng Steve Jobs là gì” của ông Guy Kawasaki đã thu hút rất nhiều người.

steve Jobs

Guy Kawasaki là một cựu kỹ sư công nghệ của Apple. Ông đã chia sẻ trên Quora một câu chuyện thú vị của mình khi làm việc cùng Steve Jobs:

"Một ngày nọ, Steve Jobs đột nhiên xuất hiện tại nơi làm việc của tôi cùng với một người đàn ông mà tôi chưa từng gặp bao giờ. Ông ấy không giới thiệu người đàn ông kia mà ngay lập tức hỏi tôi rằng: “Anh nghĩ gì về một công ty có tên Knoware?”.

Tôi đã trả lời Steve rằng sản phẩm của công ty đó rất tầm thường, nhàm chán và đơn điệu, không có gì để so sánh với sản phẩm chiến lược như Macintosh. Công ty này không phải là mối bận tâm đối với Apple.

Sau khi nghe một loạt lời phê phán của tôi, lúc bấy giờ Steve mới giới thiệu người đàn ông đứng bên cạnh: “Tôi xin giới thiệu với anh đây là Archie McGill, Giám đốc điều hành của Knoware”.

Tôi đã vượt qua được bài kiểm tra của Steve Jobs như thế. Nếu như hôm đó tôi chỉ nói những lời tốt đẹp về một phần mềm không có gì nổi bật, Steve chắc hẳn sẽ cho rằng tôi là người không có chính kiến và có thể sự nghiệp của tôi cũng kết thúc tại đó.

Sau nhiều năm làm việc tại Apple, tôi nhận ra làm việc cho Steve Jobs không dễ dàng gì. Ông ấy luôn đòi hỏi ở bạn sự xuất sắc và vượt trội dẫn đầu trong lĩnh vực của mình, hoặc là bạn sẽ bị sa thải. Tôi chưa từng được trải nghiệm điều này ở bất cứ công việc nào trước đây. Đó là một kinh nghiệm thú vị. Tôi thật sự phải cảm ơn Steve.

Kinh nghiệm này đã dạy tôi rằng, bạn nên luôn luôn nói sự thật mà không cần lo ngại hậu quả bởi 3 lý do sau đây:

1. Thứ nhất: Nói ra sự thật là một bài test kiểm tra tính cách và trí thông minh của bạn. Bạn cần có sức mạnh để nói ra sự thật và trí thông minh để biết sự thật đó là gì.

2. Thứ hai: Tất cả mọi người đều mong muốn được nghe sự thật. Nếu bạn nói sản phẩm này tốt theo hướng tích cực chỉ để an ủi họ, thì họ sẽ không biết phải cải thiện điều gì.

3. Thứ ba: Chỉ có một sự thật duy nhất, vì vậy lựa chọn trung thực sẽ dễ dàng hơn là dối trá. Nếu bạn không trung thực, bạn sẽ luôn phải kiểm soát và lo sợ với những gì mình nói.

Nguồn: Trí Thức Trẻ

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009.

3903953 orig

(John Maynard Keynes - một nhà kinh tế học người Anh)

John Maynard Keynes (sinh năm 1883) là một nhà kinh tế học người Anh. Ông nổi tiếng với học thuyết kinh tế Keynes – một học thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới kinh tế học và chính trị hiện đại.

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009. Bên cạnh đó, Keynes cũng là "cha đẻ" của những hiệp định thương mại thời hậu chiến Bretton Woods.

Tuy vậy, những học thuyết kinh tế của John Keynes rất khó để có thể tóm tắt trong vài từ. Trong các học thuyết của mình, ông quan tâm đến sự can thiệp của chính phủ đối với kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra.

Dưới đây là 5 bài học từ những học thuyết kinh tế của Keynes có thể hữu ích đối với các nhà đầu tư.

Chi tiêu Chính phủ có thể tác động đến tổng thể sản xuất trong ngắn hạn

Keynes thường đề cập đến các biện pháp kích thích của chính phủ bao gồm tăng mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ (chấp nhận thâm hụt ngân sách) để chống lại thất nghiệp không tự nguyện. Ông cũng là nhà kinh tế học đầu tiên xuất bản rộng rãi tài liệu tiếng Anh về yếu tố tổng cung, tổng cầu trong nền kinh tế.

Quan điểm này của ông đã được chứng minh là đúng, ít nhất trong ngắn hạn. Chi tiêu và các dự án của Chính phủ có thể tạm thời thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tương đương với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, chưa thể chứng minh được mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ với tăng trưởng năng suất hoặc thu nhập bình quân đầu người.

Giá cả không thể điều chỉnh một cách công bằng

Trên thị trường lao động, tiền lương chính là giá cả. Mô hình “tiền lương cứng nhắc” (sticky wage) là một phần không thể thiếu trong kho từ vựng về kinh tế của Keynes. Ông cho rằng việc giảm tiền lương không giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp bởi không có lý do gì để người lao động chấp nhận bị cắt giảm tiền lương hoặc ông chủ đề nghị giảm lương.

Nói cách khác, thị trường không phải lúc nào cũng tuân thủ rõ ràng quy tắc cân bằng tổng thể. Ông cũng lập luận rằng thị trường lao động không giống với các thị trường khác. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý rằng mọi loại giá cả có thể từ từ điều chỉnh chậm lại dưới các hoàn cảnh bất lợi.

Kinh tế và chính trị luôn có mối liên hệ chặt chẽ

John Keynes là một người phụng sự suốt đời cho cộng đồng và các học thuyết kinh tế của ông luôn có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, gây ảnh hưởng lớn đến chính sách điều hành kinh tế của các chính phủ. Ông hiểu rằng một khi quan điểm được chấp nhận bởi các viện hàn lâm, các chính trị gia sẽ dễ dàng góp phần thúc đẩy chính sách kinh tế hơn.

Keynes dùng kinh tế học như một vũ khí cho các cuộc tranh luận công khai. Ông ủng hộ mạnh mẽ các chương trình việc làm của Đảng Lao Động Anh và phản đối quan điểm lấy vàng làm tiêu chuẩn của nước Anh thời kỳ hậu thế chiến thứ nhất. Ông cho rằng các nhà cầm quyền có thể thực thi quan điểm từ học thuyết kinh tế của mình vào điều chỉnh chính sách.

Nền kinh tế vẫn có thể vận hành dù không có đủ việc làm trong một khoảng thời gian

Một trong những quan điểm mang tính đột phá của Keynes là cho rằng nền kinh tế có thể có nhiều mức độ thất nghiệp khác nhau. Đây là nhận định trái ngược với quan điểm của những nhà kinh tế học cổ điển như David Ricardo và Jean-Baptiste Say, những người nói rằng nếu thị trường lao động dư thừa việc làm thì sẽ tự điều chỉnh. Nhưng Keynes không nghĩ như vậy.

Cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933 đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ của Keynes về kinh tế học. Trước đó, các nhà kinh tế cho rằng, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiền công sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi.

Nhưng Keynes lại quan sát cuộc đại khủng hoảng và nhận ra rằng tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sản xuất mãi không hồi phục nổi. Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không vận hành hoàn hảo như những gì các nhà kinh tế cổ điển vẫn nghĩ. Và do đó, dù không có đủ việc làm thì nền kinh tế vẫn có thể vận hành trong một khoảng thời gian.

Ngày nay vẫn có một số nhà kinh tế học tranh cãi về quan điểm của ông, nhưng là về cơ chế vận hành của thị trường lao động. Một số cho rằng thất nghiệp là do dư thừa tiền tiết kiệm và thiếu thanh khoản, trong khi một số khác quan niệm các chính sách sai lầm khiến thị trường lao động mất cân bằng. Nhưng họ đều cho rằng trạng thái toàn dụng lao động không phải là một sự đảm bảo.

Lạm phát là quỷ dữ nhưng nó có thể thúc đẩy hoạt động công nghiệp

Trong bản thảo năm 1923 mang tên “A Tract on Monetary Reform”, Keynes đã gọi lạm phát là một loại quỷ dữ cần phải xa lánh. Đây cũng là quan điểm khác biệt lớn nhất giữa Keynes và các thế hệ nhà kinh tế học đi sau ông. Hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng lạm phát là vấn đề nhỏ và có một chút lạm phát sẽ giúp thúc đẩy hoạt động công nghiệp; Keynes nói không với lạm phát và còn cho rằng lạm phát giúp các nhà đầu tư làm giàu trên chi phí của người nghèo.

Giống như nhiều vấn đề khác, Keynes có những quan điểm mâu thuẫn nhau về lạm phát và chính sách tiền tệ. Nhưng ông cho rằng giá cả nên duy trì ổn định bởi lạm phát có thể dẫn đến tình trạng dư thừa công suất và ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Sau này nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Áo cũng nhận định những tác động vào nguồn cung tiền chính là nguyên nhân gây nên sự phập phù trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế với những giai đoạn xì hơi và khủng hoảng theo sau giai đoạn bùng nổ.

Hà My (Trí thức trẻ)

Trước khi đạt được thành công rực rỡ với khối tài sản gần 65 tỉ USD và “đứa con cưng" kết nối khoảng 1,8 tỉ người trên thế giới, Mark Zuckerberg chưa bao giờ dám mơ tới một Facebook phát triển như ngày hôm nay.

Tuy nhiên, với phương châm sống nổi tiếng của mình: “hành động nhanh, nghĩ đột phá", vị CEO 33 tuổi đã giúp Facebook tăng trưởng đến chóng mặt và trở thành mạng xã hội phổ biến nhất thế giới hiện nay thông qua những chiến lược không giống ai của mình.

252587568 0 4 20160221211610 3 0 2341824224 kq3F 572x381LaVanguardia Web

Dưới đây là 5 “bí quyết vàng" của Mark Zuckerberg.

1. Có niềm tin vững chắc

Khi mới tích hợp News Feed, tính năng giúp người dùng theo dõi trạng thái của bạn bè, Facebook nhận được nhiều lời chê trách hơn là khen ngợi. Mark Zuckerberg nhớ lại: “Khi ấy, có rất nhiều người lên tiếng bày tỏ e ngại về News Feed”.

Trong một bài viết kỉ niệm 10 năm của tính năng này, Ruchi Sanghvi, người chịu trách nhiệm giám sát News Feed, vẫn còn nhớ như in những lời chỉ trích và thái độ cực đoan đến từ người dùng trong những ngày mới kích hoạt nó.

Cô nói: “Chúng tôi ra mắt News Feed trong đêm khuya. Lúc đó, cả đội đang bật nắp champagne ăn mừng và chẳng mảy may suy nghĩ chuyện gì sẽ đến sáng hôm sau. Khi mặt trời vừa ló dạng, hết thảy thức giấc với hàng trăm ngàn người dùng phẫn nộ, tựa hồ như muốn ‘ăn tươi nuốt sống’ cả đội kĩ thuật. Các nhóm như ‘Hội những người ghét News Feed’, ‘Ruchi là đồ quỷ sứ’ v.v. mọc lên như nấm chỉ sau một đêm. Cánh nhà báo và cả sinh viên thậm chí đã cắm trại ‘chực sẵn’ xung quanh công ty từ lúc nào. Chúng tôi đã phải dùng đến cửa sau mới có thể an toàn rời trụ sở”.

Tuy vậy, Mark Zuckerberg và cả đội đều tin rằng họ đã đi đúng hướng. Vị CEO này nói: “Mấu chốt nằm ở niềm tin của bạn, rốt cuộc thì bạn tin vào sáng kiến đó bao nhiêu. Cả đội chứ không riêng gì tôi, ai nấy đều tin xác quyết vào News Feed.”

Thực tế đã chứng minh cho niềm tin đúng đắn của Mark và các đồng sự. Sau khi kích hoạt tính năng mới, số lượng người tiếp cận Facebook đã tăng một cách chóng mặt và cho đến tận bây giờ, News Feed vẫn đứng sừng sững như một cột trụ vững vàng cho mạng xã hội lớn nhất hành tinh này.

2. Không ngừng thử nghiệm

Facebook không đoán bừa mà thử nghiệm liên tục, tất cả vì một mục tiêu: Mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng. Một ngày, mạng xã hội này có thể chạy thử đến 10.000 phiên bản khác nhau để kiểm tra mức độ kết nối và chia sẻ của người dùng cũng như ước tính lợi tức mà nó thu về.

Mark Zuckerberg nói: “Việc cung cấp các công cụ cần thiết để lấy dữ liệu mà không phải thông qua những ý kiến, thủ tục quản trị nhiêu khê đến từ cấp trên trước khi kiểm tra một thứ gì đó sẽ giúp nhân viên tự do hơn cũng như khiến họ nhanh nhạy hơn trong hành động”.

Chính sự trơn tru, nhịp nhàng đó đã giúp cho các nhân viên ở Facebook tiến bước mau chóng, từ đó thu về nhiều phản hồi khách hàng hơn. Vị CEO 33 tuổi này nói: “Ở công ty của tôi và các đồng sự có phương châm, ‘hoàn thành’ tốt hơn ‘hoàn hảo’. Thu về phản hồi từ cộng đồng để từ đó quan sát và nhận ra hướng đi đúng đắn tốt hơn nhiều lần so với việc ra sức ‘đánh bóng’ thứ gì đó đến mức tối đa”.

3. Tạo nền tảng để đột phá

Tưởng chừng việc chuyển đổi từ nền tảng website sang ứng dụng trên di động sẽ là bước đi đột phá của Facebook, nhưng mọi việc lại không hề xảy ra như vậy. Chính sự bấp bênh này đã mang lại bài học to lớn cho công ty trong việc tạo nền tảng và chuyển đổi sang lĩnh vực khác.

Vị tỉ phú tiếp lời: “Chúng tôi gặp trở ngại ngay lúc khởi động. Ý tưởng ban đầu là phát triển một ứng dụng di động giống với những gì đã có trên màn hình vi tính, vốn là thứ quen thuộc với cả đội”.

Tuy nhiên, công việc không được xuôi chèo mát mái cho lắm và cuối cùng tất cả đã phải cay đắng đi đến quyết định: “Có vẻ điên rồ nhưng chúng tôi đã không thêm bất cứ tính năng mới nào trong vòng 2 năm. Mục tiêu trước mắt và quan trọng nhất là phải xây dựng một ứng dụng điện thoại đơn giản”.

Để giúp cả đội chuyển dịch một cách trơn tru, Mark Zuckerberg đã trực tiếp tập huấn và thiết lập các quy định gắt gao đối với những cá nhân đề xuất ý tưởng mới. Anh nhớ lại: “Cứ mỗi lần một nhân viên nào đó đến gặp tôi để nghe đánh giá sản phẩm thì bắt buộc phải cho tôi xem phiên bản điện thoại của Facebook đầu tiên, nếu không thì cầm chắc chiếc vé ‘bị đá đít’ ra khỏi văn phòng”.

Rõ ràng, việc xây dựng một nền tảng tốt và có mục tiêu mạch lạc sẽ giúp nhân viên luôn tập trung trong khi lên kế hoạch cho bước chuyển dịch đột phá.

4. Xây dựng đội ngũ gắn kết

Phần lớn thành viên ban quản trị của Facebook đều nắm giữ cương vị hiện tại thông qua quá trình làm việc và phấn đấu dài lâu chứ không phải do được giao phó ngay từ lúc đầu. Đơn cử như một phụ nữ ban đầu là trợ lý điều hành, bây giờ đang nắm vai trò quản lí “Nhóm Phát triển". Người khác khi trước là kĩ sư, giờ phụ trách “Nhóm Sản phẩm” và cả “Phòng Nhân sự” nữa.

Cách thiết lập đội ngũ như thế này có cái hay riêng của nó, Mark Zuckerberg cho biết: “Khi bạn lập đội quản trị với các thành viên lâu năm tại công ty, bạn sẽ nắm trong tay những con người có sự tin cậy và gắn bó nhất định do đã cùng đồng cam cộng khổ và ý thức được làm cách nào để hoàn thành mục tiêu”.

Mark nói thêm: “Nó ‘bật đèn xanh' cho mọi nhân viên trong công ty, cho họ biết rằng họ cũng có thể đạt được vị trí đó trong tương lai nếu làm tốt chức phận và vượt trội hơn người khác”.

5. Thuê người giỏi hơn mình

Xoay quanh vấn đề nhân sự, CEO của Facebook trả lời: “Khác biệt cơ bản giữa ‘công ty tốt’ và ‘công ty tuyệt vời’ nằm ở những nhân viên được tuyển dụng. Những công ty thành công vang dội luôn có những người sáng lập dám đặt bản thân xung quanh kẻ giỏi hơn mình”.

Quy tắc vàng được vị CEO này đưa ra: “Chớ thuê người mà ngay cả bản thân bạn cũng không muốn làm việc cho. Khi tuyển nhân viên, hãy hình dung tình huống ngược lại: Trong vị trí người đi xin việc thì bạn có thấy thoải mái nếu phải làm việc cho người này không? Nếu câu trả lời là không, thì bạn đang ‘cố đấm ăn xôi’ và thực chất bạn có thể làm được tốt hơn như vậy”.

Cách tuyển nhân viên như thế đảm bảo cho con đường phát triển của doanh nghiệp. Mark thú nhận: “Có những mặt mà Sheryl Sandberg mạnh hơn tôi rất nhiều và chính điều ấy lại làm cho tôi trở nên tốt hơn, đồng thời khiến Facebook tốt hơn. Tôi chẳng lo lắng mà hơn cả là trân trọng điều ấy”.

LÊ DUY(Theo Entrepreneur)

Ý Kiến