“Sự khác nhau giữa từ ngữ gần đúng và từ ngữ chính xác thực sự là vấn đề rất lớn – ‘nó cũng giống như sự khác nhau giữa tia chớp và tia sét vậy,” Mark Twain từng viết.

Dù muốn hay không, thì từ ngữ mà bạn sử dụng vẫn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng đạt được thành công của bạn. Và điều này đặc biệt đúng với những nhà lãnh đạo.

“Những nhà lãnh đạo tài ba nhất có thể diễn đạt lưu loát sứ mệnh của tổ chức mà họ đứng đầu và thể hiện nó theo những cách mà truyền cảm hứng cho những người khác để đạt được sứ mệnh ấy,” Darlene Price, chủ tịch của Well Said, Inc. và là tác giả của cuốn sách “Well Said! Presentations and Conversations That Get Results.” cho biết.

“Dù có những đặc điểm, cử chỉ và kỹ năng khác là cần thiết cho người lãnh đạo, nhưng từ ngữ là điều đầu tiên cần phải có.” Cô Price chỉ ra rằng những nhà lãnh đạo vĩ đại luôn biết cách nắm lấy sức mạnh của từ ngữ. “Họ hiểu được sức ảnh hưởng của ngôn ngữ nói, và cái cách mà nó tác động đến trái tim và tâm trí của mọi người.”

Vì lý do này mà họ thường sử dụng những cụm từ rất tích cực và hiệu quả khi nói với các đồng nghiệp của mình, ví dụ như: “Đây là nhiệm vụ của tất cả chúng ta,” “Vai trò của anh/chị là rất quan trọng bởi…,” “Tôi muốn biết anh/chị nghĩ sao về vấn đề này,” “Tôi có thể giúp gì không?” “Cùng nhau chúng ta có thể…” “Chúc mừng nhé,” và “Cảm ơn.”

“Ngược lại, có một số từ và cụm từ mà những nhà lãnh đạo thực thụ không bao giờ nói ra,” Price giải thích.

Dưới đây là 10 kiểu câu đó:

1. “Tôi là chủ”

imboss

“Bằng việc nói ra câu này, thì bạn đã phủ nhận bạn chính là ông chủ. Như cố thủ tưởng Anh Margaret Thatcher từng nói, ‘Nếu bạn phải nói cho người khác biết bạn là ai, thì rõ ràng bạn không hề như thế.’”
Khi nói câu này, đồng nghĩa với việc bạn đang ám chỉ một thái độ rằng, “Không thắc mắc, không tranh luận gì hết. Chúng ta sẽ làm mọi việc theo cách của tôi.”

“Những nhà lãnh đạo thì được tôn sùng và ngưỡng mộ, ngược lại những kẻ độc tài thì bị coi khinh,” Price nói. “Tất nhiên bạn là chủ, nhưng việc nói ra như thế không khiến nó đúng là như vậy. Thay vào đó, hãy trao quyền cho người khác bằng cách hỏi “Anh/chị cần gì để hoàn thành công việc?” hay “Liệu tôi có thể giúp gì?”

2. “Đó không phải là lỗi của tôi”

myfault

Những nhà lãnh đạo thực sự luôn chịu trách nhiệm cho bất cứ điều gì mà họ làm. Họ không chỉ tay năm ngón, không ngụy biện, hoặc đổ lỗi cho cấp dưới. “Trong khi chẳng ai muốn bị khiển trách, thì một người lãnh đạo vĩ đại sẽ chấp nhận nó, có trách nhiệm giải trình, và tập hợp mọi người lại để tìm ra giải pháp. Thay vì đổ lỗi cho người quản lý, người giám đốc tiền nhiệm hay nền kinh tế suy thoái, thì họ sẽ nói ‘cùng tìm ra biện pháp để thu được thành quả nào.’”
Như Henry Ford từng khuyên “Đừng tìm lỗi lầm. Hãy tìm ra biện pháp khắc phục”.

3. “Tôi sẽ tự làm một mình”

141006010459 route to the top boss 8 horizontal gallery

Lãnh đạo không phải là làm việc một mình, Price giải thích. “Thái độ này thường được gọi là ‘thích – tự - làm – mọi – thứ,’. Điều này có thể tốt khi bạn ở nhà một mình chứ không hề tốt khi làm lãnh đạo. Càng mở rộng quy mô của công ty, bạn sẽ càng làm mọi thứ với tư cách cá nhân ít đi mà những việc bạn làm sẽ càng phải thông qua những người khác.

Mục tiêu là phải đặt đúng người đúng chỗ và tạo điều kiện để họ thành công.

4. “Tôi biết rồi – Tôi đã nghĩ về tất cả mọi thứ”

141006010157 route to the top boss 7 horizontal gallery

Như huyền thoại huấn luyện viên bóng rổ John Wooden từng nói, “Sau khi bạn biết tất cả mọi thứ đều quan trọng thì đó mới là điều mà bạn học được.”

“Tránh việc bỏ qua hoặc không để ý đến lời của nhân viên với thái độ ‘tôi biết hết rồi’. Ngay cả khi bạn đã biết, thì vẫn nên lắng nghe. Khi bạn hoan nghênh hoặc đánh giá cao trí tuệ và sự đóng góp của cấp dưới, bạn sẽ khiến họ cảm thấy họ là nhân viên có ích”

5. “Thất bại không phải là một lựa chọn”

141006005756 route to the top boss 6 horizontal gallery

“Câu này có thể xem là phương châm là việc của Trung tâm Điều khiển Hoạt động của NASA hay tiêu đề cuốn tự truyện của Gene Kranz. Tuy nhiên, khi một nhà lãnh đạo phát ngôn ra câu nói này, thì nó thường mang ý nghĩa là, ‘không được phép phạm sai lầm.’”

“Thái độ này gây ra nỗi sợ hãi, kiềm chế khả năng sáng tạo và sự đổi mới trong mỗi nhân viên. Nhà lãnh đạo tài ba luôn cho phép – thậm chí còn khuyến khích – nhân viên của họ thất bại; để biến những sai lầm thành tòa nhà vững chãi và những rủi ro thành bước đi chắc chắn. “Đó là lý do vì sao Thomas J.Watson, nhà sáng lập IBM, đã từng khuyên, ‘Con đường đi đến thành công là nhân đôi tỉ lệ thất bại của bạn.’ Hay như Arianna Huffington nói, ‘Sự thất bại không phải là đối nghịch của thành công; nó là con đường đưa đến sự thành công”.

6. “Đó không phải là cách chúng ta làm ở đây”

141006005551 route to the top boss 5 horizontal gallery

Những nhà lãnh đạo đạt thành công là những người có đam mê với sự đổi mới – tìm ra cách tốt hơn để giải quyết vấn đề. “Thực tế, Steve Jobs từng nói, ‘Sự đổi mới sẽ giúp phân biệt được đâu là nhà lãnh đạo và đâu là nhân viên.’ Vì vậy, nhà lãnh đạo giỏi nhất sẽ coi trọng những viên thể hiện tư duy sáng tạo, linh hoạt và kỹ năng giải quyết vấn đề,” Price giải thích.

“Những cụm từ, trong một thời khắc nhất định nào đó, sẽ tiết lộ bạn là người theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại: bị mắc kẹt với kiểu tư duy thời còn đi học, kém linh hoạt và nông cạn”
Ngay cả khi bạn không tán thành ý kiến của ai đấy, thay vào đó hãy nói rằng, “Đó là ý kiến rất tuyệt. Thực hiện thế nào nhỉ?” hoặc, “Đó cũng là một cách giải quyết. Cùng thảo luận những mặt thuận lợi và bất lợi của nó nào”.

7. “Tôi muốn thành quả, chứ không phải những mối liên hệ”

141006005439 route to the top boss 4 horizontal gallery

Những nhà lãnh đạo biết rằng kết quả được làm ra bởi mọi người, mà trong đó yêu cầu sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên, lãnh đạo, khách hàng đối tác, nhà cung cấp và các bên liên quan. “Ngay cả khi ở trong từ điển, thì từ ‘mối liên hệ’ (relationship) cũng đứng trước từ ‘thành quả’ (result).

8. “Tôi không quan tâm điều đó có trái với đạo đức hay không. Nếu nó không phạm pháp thì cứ làm đi”

141006005309 route to the top 3 horizontal gallery

Những nhà lãnh đạo không bao giờ khuyến khích hay tha thứ cho sự đồi bại hay hành vi vi phạm đạo đức chỉ để đạt được lợi nhuận hoặc mục tiêu của tổ chức. “Lấy mục đích để biện minh cho phương tiện không bao giờ là lời bào chữa hợp lý cho việc cố ý lừa dối, coi thường chính sách, không tuân thủ và có hành vi trái luật. Thay vào đó hãy nói ‘cứ làm điều đúng đắn.’”

9. “Đừng mang đến cho tôi bất kỳ tin xấu hay bất ngờ nào”

141006005145 route to the top 2 horizontal gallery

Nói điều này không khiến những tin xấu hay điều bất ngờ biến mất; nó chỉ đơn giản là mọi người đang quét một quả bom hẹn giờ dưới tấm thảm. “Những nhà lãnh đạo thực thụ luôn muốn biết những vấn đề cần sự có mặt của họ ngay lập tức; thế nên, họ sẽ nói ‘Nếu có bất kỳ vấn đề gì, tôi muốn là người đầu tiên được biết.” Price giải thích. “Họ tạo ra môi trường làm việc nơi mà mọi người đều mong đợi được nêu lên các vấn đề ngay khi chúng xuất hiện, hơn là phải giấu giếm.

Như cựu ngoại trưởng Mỹ từng nói với nhân viên của mình, “Tin xấu không phải là rượu vang. Nó không hề được cải thiện theo thời gian”.

10. “Anh/chị phải rất may mắn mới nhận được công việc ở đây đấy”

141006004952 route to top boss 1 horizontal gallery

Câu này có tính chất phá hoại sự nỗ lực cũng như giết chết tinh thần làm việc của nhân viên. Nó ám chỉ rằng bạn đang làm phước cho họ khi nhận họ vào làm, và họ mắc nợ bạn khi được nhận đặc quyền vào làm ở đây. “Nó tùy thuộc vào nhân viên quyết định xem điều này đúng hay sai,” Price nói. Thay vào đó hãy nói rằng, “Chúng tôi thật may mắn anh/chị làm việc cùng chúng tôi”.

Price cũng cho biết rằng một mẫu số chung khác của những nhà lãnh đạo vĩ đại chính là ngôn ngữ và hành động của họ truyền cảm hứng cho người khác “mơ ước nhiều hơn, học hỏi nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, và trưởng thành hơn,” như cố tổng thống John Quicy Adams từng nói. “Đó là lý do vì sao họ được xem là những nhà lãnh đạo – sự kết hợp giữa khả năng ăn nói và nhân cách của họ khiến người dân phải dõi theo. Những nhà lãnh đạo tài ba nhất luôn cố chọn ra những từ ngữ cụ thể để nói, và từ nào sẽ không nói, để tối đa hóa khả năng đạt được thành công thông qua người dân”.

Theo CNN

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009.

3903953 orig

(John Maynard Keynes - một nhà kinh tế học người Anh)

John Maynard Keynes (sinh năm 1883) là một nhà kinh tế học người Anh. Ông nổi tiếng với học thuyết kinh tế Keynes – một học thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới kinh tế học và chính trị hiện đại.

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009. Bên cạnh đó, Keynes cũng là "cha đẻ" của những hiệp định thương mại thời hậu chiến Bretton Woods.

Tuy vậy, những học thuyết kinh tế của John Keynes rất khó để có thể tóm tắt trong vài từ. Trong các học thuyết của mình, ông quan tâm đến sự can thiệp của chính phủ đối với kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra.

Dưới đây là 5 bài học từ những học thuyết kinh tế của Keynes có thể hữu ích đối với các nhà đầu tư.

Chi tiêu Chính phủ có thể tác động đến tổng thể sản xuất trong ngắn hạn

Keynes thường đề cập đến các biện pháp kích thích của chính phủ bao gồm tăng mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ (chấp nhận thâm hụt ngân sách) để chống lại thất nghiệp không tự nguyện. Ông cũng là nhà kinh tế học đầu tiên xuất bản rộng rãi tài liệu tiếng Anh về yếu tố tổng cung, tổng cầu trong nền kinh tế.

Quan điểm này của ông đã được chứng minh là đúng, ít nhất trong ngắn hạn. Chi tiêu và các dự án của Chính phủ có thể tạm thời thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tương đương với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, chưa thể chứng minh được mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ với tăng trưởng năng suất hoặc thu nhập bình quân đầu người.

Giá cả không thể điều chỉnh một cách công bằng

Trên thị trường lao động, tiền lương chính là giá cả. Mô hình “tiền lương cứng nhắc” (sticky wage) là một phần không thể thiếu trong kho từ vựng về kinh tế của Keynes. Ông cho rằng việc giảm tiền lương không giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp bởi không có lý do gì để người lao động chấp nhận bị cắt giảm tiền lương hoặc ông chủ đề nghị giảm lương.

Nói cách khác, thị trường không phải lúc nào cũng tuân thủ rõ ràng quy tắc cân bằng tổng thể. Ông cũng lập luận rằng thị trường lao động không giống với các thị trường khác. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý rằng mọi loại giá cả có thể từ từ điều chỉnh chậm lại dưới các hoàn cảnh bất lợi.

Kinh tế và chính trị luôn có mối liên hệ chặt chẽ

John Keynes là một người phụng sự suốt đời cho cộng đồng và các học thuyết kinh tế của ông luôn có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, gây ảnh hưởng lớn đến chính sách điều hành kinh tế của các chính phủ. Ông hiểu rằng một khi quan điểm được chấp nhận bởi các viện hàn lâm, các chính trị gia sẽ dễ dàng góp phần thúc đẩy chính sách kinh tế hơn.

Keynes dùng kinh tế học như một vũ khí cho các cuộc tranh luận công khai. Ông ủng hộ mạnh mẽ các chương trình việc làm của Đảng Lao Động Anh và phản đối quan điểm lấy vàng làm tiêu chuẩn của nước Anh thời kỳ hậu thế chiến thứ nhất. Ông cho rằng các nhà cầm quyền có thể thực thi quan điểm từ học thuyết kinh tế của mình vào điều chỉnh chính sách.

Nền kinh tế vẫn có thể vận hành dù không có đủ việc làm trong một khoảng thời gian

Một trong những quan điểm mang tính đột phá của Keynes là cho rằng nền kinh tế có thể có nhiều mức độ thất nghiệp khác nhau. Đây là nhận định trái ngược với quan điểm của những nhà kinh tế học cổ điển như David Ricardo và Jean-Baptiste Say, những người nói rằng nếu thị trường lao động dư thừa việc làm thì sẽ tự điều chỉnh. Nhưng Keynes không nghĩ như vậy.

Cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933 đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ của Keynes về kinh tế học. Trước đó, các nhà kinh tế cho rằng, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiền công sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi.

Nhưng Keynes lại quan sát cuộc đại khủng hoảng và nhận ra rằng tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sản xuất mãi không hồi phục nổi. Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không vận hành hoàn hảo như những gì các nhà kinh tế cổ điển vẫn nghĩ. Và do đó, dù không có đủ việc làm thì nền kinh tế vẫn có thể vận hành trong một khoảng thời gian.

Ngày nay vẫn có một số nhà kinh tế học tranh cãi về quan điểm của ông, nhưng là về cơ chế vận hành của thị trường lao động. Một số cho rằng thất nghiệp là do dư thừa tiền tiết kiệm và thiếu thanh khoản, trong khi một số khác quan niệm các chính sách sai lầm khiến thị trường lao động mất cân bằng. Nhưng họ đều cho rằng trạng thái toàn dụng lao động không phải là một sự đảm bảo.

Lạm phát là quỷ dữ nhưng nó có thể thúc đẩy hoạt động công nghiệp

Trong bản thảo năm 1923 mang tên “A Tract on Monetary Reform”, Keynes đã gọi lạm phát là một loại quỷ dữ cần phải xa lánh. Đây cũng là quan điểm khác biệt lớn nhất giữa Keynes và các thế hệ nhà kinh tế học đi sau ông. Hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng lạm phát là vấn đề nhỏ và có một chút lạm phát sẽ giúp thúc đẩy hoạt động công nghiệp; Keynes nói không với lạm phát và còn cho rằng lạm phát giúp các nhà đầu tư làm giàu trên chi phí của người nghèo.

Giống như nhiều vấn đề khác, Keynes có những quan điểm mâu thuẫn nhau về lạm phát và chính sách tiền tệ. Nhưng ông cho rằng giá cả nên duy trì ổn định bởi lạm phát có thể dẫn đến tình trạng dư thừa công suất và ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Sau này nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Áo cũng nhận định những tác động vào nguồn cung tiền chính là nguyên nhân gây nên sự phập phù trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế với những giai đoạn xì hơi và khủng hoảng theo sau giai đoạn bùng nổ.

Hà My (Trí thức trẻ)

Nếu bạn đang sở hữu một shop online trên mạng xã hội hay đã có website thì đầu tư nội dung vẫn là yếu tố quan trọng cần được đầu tư hàng đầu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ với bạn một số hướng xây dựng nội dung cho shop online hiệu quả, thu hút hàng ngàn khách hàng. Với website, bạn sẽ gia tăng lượng truy cập, gia tăng số đơn hàng online bán ra và đối với mạng xã hội, bạn sẽ tăng được lượt Like, lượt Reach lên mức tối ưu nhất có thể.

phaply

Nghiên cứu bộ từ khóa của bạn

Bạn có thể viết về tất cả các loại nội dung trên blog hay trang Facebook của mình, nhưng trước tiên hãy đảm bảo rằng bạn đã nghiên cứu và sở hữu bộ từ khóa thích hợp liên quan đến các dịch vụ / sản phẩm của mỉnh. Bạn thực sự cần phải biết những cụm từ tìm kiếm mà bạn hoặc khách hàng của mình muốn tìm kiếm. Và những từ khóa này nhất định phải được phân bổ rải rác và nhắc đến nhiều trong các content của bạn.

Bài viết theo dòng sự kiện, event

Một cách tuyệt vời để lúc nào cũng có bài đăng mới, được nhiều lượt xem chính là bạn theo dõi các sự kiện hiện tại, các ngày lễ đặc biệt sắp đến. Bạn cũng có thể theo dõi các trang web tin tức khác nhau và viết bài đưa ra những quan điểm của mình hoặc những tin tức trong lĩnh vực kinh doanh của bạn. Ví dụ sắp tới có một kì nghỉ lễ, bạn có thể viết một bài về cách sử dụng sản phẩm của bạn trong kỳ nghỉ cụ thể đó.

Xây dựng nôi dung cho shop online tăng tính tương tác với khách hàng

Rất dễ! Hãy thường xuyên mời khách hàng để lại comment, like hoặc inbox, email cho bạn và đổi lại là một phần quà nho nhỏ từ shop online của bạn (có thể là voucher, mã giảm giá hoặc samole dùng thử). Cách này luôn hiệu quả và sẽ khiến website bán hàng, Fanpage của bạn luôn trong trạng thái nhộn nhịp, đông đúc khách hàng.

Chủ shop làm bạn với khách hàng, tại sao không?

Không chỉ là một mặt hàng hay sản phẩm, dịch vụ, nếu shop online của bạn có thể tạo mối liên hệ thân thiết giữa chủ shop và khách hàng thì việc kinh doanh của bạn sẽ còn thắng lớn hơn nữa.

Trong lúc viết bài viết trên blog bạn có thể tạo mối quan hệ cá nhân tốt đẹp giữa bạn và khách hàng thông qua hình ảnh của các nhân vật nổi bật trong công ty đó. Ví dụ: Một CEO của một công ty có thể viết về quan điểm của ông về thị trường hoặc cách ông sử dụng các sản phẩm ông bán. Điều này sẽ giúp công ty và thương hiệu có bộ mặt riêng và những câu chuyện thú vị. Điều đó sẽ giúp mọi người kết nối với một thương hiệu hoặc công ty. Nó thậm chí có thể thuyết phục họ quay trở lại shop của bạn và mua hàng.

Vậy shop online của bạn cũng có thể học hỏi theo cách này thông qua việc tạo các bài chia sẻ từ chính chủ shop, chủ shop làm livestream, video clip vlog… liên quan đến sản phẩm hoặc chia sẻ về các vấn đề trong xã hội để tạo ảnh hưởng nhiều hơn đến khách hàng.

Viết các câu chuyện về sản phẩm của bạn

Blog hay Fanpage riêng của bạn là một nơi tuyệt vời để chia sẻ những câu chuyện về sản phẩm. Nếu bạn bán dụng cụ vệ sinh, hãy viết bài chia sẻ về những vết bẩn nào được loại bỏ tốt nhất với nguồn cung cấp nào. Nếu bạn bán quần áo trẻ em, hãy viết bài viết về trẻ em mặc quần áo của bạn.

Và đừng quên thêm thật nhiều ảnh nhé! Kể câu chuyện về cách sử dụng sản phẩm của bạn nhưng đừng quá kêu gọi hay chiêu dụ mua hàng quá lộ liễu, hãy khiến khách hàng nghĩ rằng bạn đang chỉ chia sẻ thông tin với họ. Nếu bạn vẫn chưa yên tâm, có thể để thêm ở cuối bài viết các thông tin liên hệ của shop bạn và một số sản phẩm bạn đang cung cấp.

Các chương trình mini game, khuyến mãi, giảm giá

Một cách cực kì hiệu quả để kéo traffic về website hay lượt reach cho fanpage chính là các chương trình game, khuyến mãi, giảm giá… Có lẽ chúng tôi cũng không cần phải nói quá nhiều về các hình thức này nữa vì bạn đã hiểu phải làm như thế nào. Tuy nhiên cũng cần cân nhắc khi thực hiện các hoạt động game, khuyến mãi, giảm giá đó là đầu tư vào nội dung và quà tặng hấp dẫn, đúng dịp và tránh lạm dụng tổ chức quá thường xuyên hoặc đầu tư không chất lượng, sẽ làm giảm đáng kể uy tín của shop bạn trong mắt khách hàng.

*Sưu Tầm*

Xây dựng một doanh nghiệp đột phá, một thương hiệu sáng tạo, thành công và tạo được dấu ấn sâu rộng, không chỉ trong nước mà còn trên trường quốc tế, luôn là mong ước và khát khao của các thế hệ doanh nhân khi bắt đầu khởi nghiệp. Tuy nhiên, hành trình tạo dựng được một công ty như vậy là một thách thức không dễ thực hiện.